Press "Enter" to skip to content

TƯỚNG GIÁP VÀ TRIẾT LÝ KHOA HỌC QUÂN SỰ VIỆT NAM

TƯỚNG GIÁP VÀ TRIẾT LÝ KHOA HỌC QUÂN SỰ VIỆT NAM

Nguyễn Quang Hưng

Dẫn luận

Viết về tướng Giáp với tôi là một sự tình cờ. Mới đây, khoa Triết học, Trường Đại học KHXH & NV ở Hà Nội vừa kết hợp với khoa Triết học, Trường Đại học KHXH & NV ở tp. Hồ Chí Minh vừa tổ chức ở Sàigòn Hội thảo khoa học về tướng Giáp nhân sự kiện 50 năm thống nhất đất nước và sinh nhật lần thứ 114 của ông. Tôi được giao việc tổng kết Hội thảo. Cá nhân tôi cũng có vài trải nghiệm thú vị về vị tướng này, đáng chú ý là dịp cùng với lãnh đạo trường tổ chức Hội thảo quốc tế nhân 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ hồi năm 2004. Khi đó tôi chứng kiến vị tướng dù đã ở tuổi cửu tuần vẫn phải “chiến đấu” bởi một số học giả Trung Quốc, mà theo giới trẻ vẫn nói là “gatô” (ghen ăn, tức ở) với danh tiếng của ông, cho rằng chiến thắng Điện Biên Phủ phải kể tới công lao của tướng La Vĩ Thanh và các cố vấn Trung Quốc. Gay cấn tới mức lần đầu tiên Văn phòng TW Đảng cộng sản Việt Nam mở toang cánh cửa, để cho các nhà sử học vào đọc các tài liệu lưu trữ được xếp vào dạng tuyệt mật bấy lâu nay, phục vụ cho báo cáo đề dẫn Hội thảo của GS. Phan Huy Lê nhằm khẳng định vai trò của tướng Giáp.

Rồi cũng tình cờ, vừa rồi tôi có dịp gặp lại tướng Hoàng Văn Thương, người từng chiến đấu cùng tướng Giáp suốt từ chiến trường Điện Biên Phủ, trong cả các cuộc chiến tranh Việt Nam và chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Nghe tôi nói tới Hội thảo về tướng Giáp, vị tướng già nay đã 99 tuổi, phấn chấn hẳn lên, động viên tôi phải “phát biểu mạnh” ở Hội thảo, khẳng định công lao của tướng Giáp, phản bác lại không ít những kẻ hiện tại ở Việt Nam đang tìm cách tôn cá nhân mình lên bằng cách hạ thấp “người hùng Điện Biên Phủ”. Thế mới thấy cái tính “gatô” ở đâu cũng vậy và điều đó càng thôi thúc tôi viết vài dòng về tướng Giáp.

1.Tướng Giáp, một nhân cách lớn, người có vai trò to lớn trong việc xây dựng triết lý khoa học quân sự Việt Nam

Đánh giá di sản của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2013), hay tướng Giáp (General Giap) như các học giả phương Tây vẫn gọi một cách thân mật, không thể chỉ bằng quy mô của một vài cuộc Hội thảo. Cho đến nay, có nhiều công trình, Hội thảo quy mô trong nước và quốc tế trực tiếp hoặc gián tiếp bàn về ông. Ở đây, chúng tôi xin phép chỉ chốt lại hai điểm.

Thứ nhất, tướng Giáp là một nhân cách lớn. Không phải mặc nhiên vị tướng tài nào cũng có được nhân cách lớn. “Lắm tài nhiều tật” – dân gian đã đúc kết như vậy. Không ai nói Napoleon Bonaparte (1761-1821) là người có nhân cách lớn cả, tuy dù cả thế giới biết đến những tài thao lược quân sự của vị tướng này.[1] Xa xưa hơn nữa, cũng chả ai dám quả quyết Julius Ceasar (100-44 tr. CN) hay Thành Cát Tư Hãn (1162-1227) là những người có nhân cách lớn cả. Tuy dù, không ai dám hoài nghi về những tài thao lược quân sự và những chiến tích lớn của họ làm thay đổi cả lịch sử nhân loại cả một thời kỳ, nhưng tất cả họ đều là những nhân vật gây nhiều tranh cãi, khi ta nói về nhân cách của những nhân vật lịch sử trên. Dân chúng có thể nể phục tài cầm quân, tài hoạt động chính trị, nhưng chưa hẳn đã yêu mến họ. Tương tự, người ta cũng có những đánh giá khác nhau về nhân cách của vua Quang Trung ở Việt Nam, tuy dù không ai nghi ngờ về tài thao lược quân sự của ông.[2]

Ngược lại, tướng Giáp của chúng ta bình dị, đi vào lòng dân bằng cả tài thao lược quân sự cũng như nhân cách lớn của ông. Đạo đức học của I. Kant đưa ra câu châm ngôn nổi tiếng nói lên tinh thần nhân đạo xuyên suốt hệ thống triết học của triết gia này “Hãy hành động, sao cho bạn luôn sử dụng con người đồng thời như là mục đích, không bao giờ đơn thuần như là phương tiện, kể cả trong cá nhân bạn lẫn cá nhân mọi người khác”.[3] Quan điểm đó cũng rất tương đồng với quan niệm về nhân của Khổng Tử “Điều gì mình không muốn thì đừng bắt người khác phải làm”. Ở cương vị một người tướng, dưới quyền một số người, nhưng trên cả vạn người, thật là khó để có thể thực hiện những chuẩn mực đạo đức trên. Chúng ta vẫn thường nghe tới những chiến thuật biển người, hay “lấy thịt đè người”, nói một cách thô thiển, trong nhiều trận đánh, sẵn sàng “nướng quân” để giành một trận thắng, một chiến tích nào đó về quân sự hay chính trị nào đó bằng mọi giá. Nhưng tướng Giáp của chúng ta, cũng giống như Trần Hưng Đạo khi xưa, luôn ý thức làm thế nào để có thể chiến thắng với ít hao tổn xương máu nhất, đi đến vinh quang bằng chính tài thao lược dùng lính của mình. “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, câu nói của Nguyễn Du thửa nào, để chúng ta hiểu hơn về con người của tướng Giáp.

Thứ hai, đây là điều chính yếu mà chúng tôi muốn tập trung ở đây, tướng Giáp là một nhà tư tưởng quân sự tài ba, có đóng góp lớn trong việc xây dựng triết lý/học thuyết quân sự Việt Nam.

Có triết học Việt Nam hay không? Từ bao năm qua và cho tới hiện tại, nhiều người trong số chúng ta ngồi đây, vẫn luôn bị ám ảnh, cái ám ảnh mà L. Cadiere, cha đẻ của ngành tôn giáo học ở Việt Nam vẫn khái quát: “Không có thực sự một nền triết học Việt Nam. Người Việt, từ một thời xa xưa nào đó khó minh định, đã du nhập những cơ sở triết học của người Trung Hoa, cùng với tổng thể nền văn minh của họ. Những cơ sở triết học ấy được giữ như nguyên, không đượm thêm màu sắc chuyên biệt nào, và cũng chẳng có một chút biến đổi mảy may. Sĩ phu Việt Nam tiếp nhận nguyên vẹn các học thuyết Trung Hoa theo kinh sách, chấp nhận những diễn giải của Châu Hy mà chẳng cần tranh biện, thậm chí nhiều khi không hiểu hết và gần như luôn luôn chẳng cần đào sâu nghiên cứu (…) Khi tôi khẳng định rằng không có triết học Việt Nam, ý tôi muốn nói đến một hệ thống triết học, một học thuyết cơ bản, một triết học có lập luận đặc thù của Việt Nam, bao hàm những nghiên cứu, những tư duy, những khát vọng của tâm hồn người Việt. Không có một nền triết học Việt Nam, mà chỉ có một minh triết dân gian”.[4]

Những nhận định trên đây của Cadiere cách đây gần một thế kỷ được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam tiếp tục chia sẻ. Cách đây bốn chục năm, GS. Hà Văn Tấn, từ góc độ sử học, cũng từng quả quyết: “Tổ tiên ta ít làm lý luận. Không phải không có, nhưng rất ít. Có hai khoa học có được ít nhiều đúc kết về lý luận là khoa học về quân sự và khoa học y học (…) Còn làm triết học với nghĩa tư duy trừu tượng khái quát thì quả là hiếm. Dường như chúng ta chỉ có những nhà triết học “tay trái”. Có nhiều lý do lịch sử cắt nghĩa điều này: 1/Cha ông chúng ta không có đủ thì giờ. Phần lớn thì giờ lo cho việc giữ nước; 2/Cha ông chúng ta không có đủ điều kiện. Một điều kiện quan trọng là sự phát triển khoa học kỹ thuật; 3/Khi nhà nước mới hình thành, thì sự phân công lao động xã hội không đủ mạnh, không đủ triệt để để hình thành một tầng lớp lao động trí óc, làm công việc xây dựng các phạm trù và hệ thống tư tưởng”.[5]

Ở đây, chúng ta không đi sâu bàn luận việc có triết học Việt Nam hay chưa. Điều đó dành cho một buổi thảo luận khác. Điều chúng ta quan tâm là phải chăng chúng ta không thể vượt qua được cái “dớp”, mà ông cha chúng ta vì nhiều lý do khách quan và chủ quan đã mắc phải, và nhất là tướng Giáp có vai trò gì trong lịch sử dân tộc. Một vị tướng mà chiếm được sự vị nể ở cả “phe ta” và “phe địch”, nói theo ngôn ngữ thời chiến tranh lạnh, hay chí ít không phải “phe ta” –, nói theo ngôn ngữ hiện tại, cho thấy tầm cỡ của nhân vật, mà như BBC (British brocasting company) nhận xét, “vị tướng ở châu Á, được nhắc tới nhiều nhất kể từ sau thế chiến II”.

Ở đây, chúng ta chỉ tập trung vào một điểm chính mà các báo cáo đều toát lên một ý tưởng chung: Tướng Giáp không chỉ là một vị tướng giỏi trận mạc, mà còn là một nhà tư tưởng quân sự, người đã có đóng góp không nhỏ trong nỗ lực xây dựng triết lý cho nền khoa học quân sự Việt Nam. Cho dù những nhận định trên đây của Cadiere không phải không có cơ sở, thì chúng ta cũng thấy rõ một điều rằng, điều mà vị nhà nghiên cứu khả kính người Pháp, người mà yêu Việt Nam hơn nhiều người Việt, chủ yếu nói tới thực trạng của tư tưởng Việt Nam thời kỳ tiền thuộc địa, tức là cho tới trước khi người Pháp đặt chân tới nước này. Vậy, những nỗ lực của giới trí thức Việt Nam trong gần hai thế kỷ qua không hề nhỏ trong việc xây dựng một nền triết học Việt Nam, trong đó phải kể tới Nguyễn Trường Tộ (1828-1871), Nguyễn Lộ Trạch (1853-1895), Đặng Huy Trứ (1825-1874), Trương Vĩnh Ký (1837-1898), những người làm nên trào lưu tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, rồi kế tiếp là Lương Văn Can (1854-1927), Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Chu Trinh (1870-1926), Phạm Quỳnh (1892-1945), Trần Trọng Kim (1883-1953) và bao người khác, những người làm nên giai đoạn hoàng kim của tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Kế tiếp đó là thế hệ của Hồ Chí Minh (1890-1969), Võ Nguyên Giáp (1911-2013), Trần Văn Giàu (1911-2010), Lê Tôn Nghiêm (1912-1988), Lương Kim Định (1915-1997), Trần Đức Thảo (1917-1992), Trần Thái Đỉnh (1922-2005) và bao người khác, những người tiếp nối truyền thống tư tưởng triết học Việt Nam thời kỳ hậu thuộc địa, những người thầy, tiền thân của thế hệ chúng ta hôm nay.

Điều đáng lưu ý, khi nói tới tư tưởng và triết học Việt Nam chúng ta không thể không kể tới các lĩnh vực quân sự vốn là bộ phận hữu cơ không thể tách dời ở một dân tộc có truyền thống chống ngoại xâm mấy ngàn năm. Về tiền đề tư tưởng của Võ Nguyên Giáp, điều rõ ràng rằng, xuất thân từ một nhà giáo dạy lịch sử, tư tưởng và tài thao lược quân sự của ông cha ta như Trần Hưng Đạo rất có thể ảnh hưởng nhất định tới tướng Giáp. Ông trực tiếp đọc sách của nhiều nhà chính trị và quân sự trên thế giới như bản thân ông thừa nhận. Một trong những vị tướng mà tướng Giáp mến mộ nhất là Napoleon và đây cũng là lý do khiến một số nhà nghiên cứu phương Tây thường ví Võ Nguyên Giáp là một “Napoleon đỏ” (red Napoleon)..[6] Về tư tưởng quân sự của tướng Giáp đã được thể hiện qua những công trình nổi tiếng của ông, trong đó phải kể tới như Võ Nguyên Giáp (1959), Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân (Nxb. Quân đội nhân dân); Võ Nguyên Giáp (1977), Những chặng đường lịch sử (Nxb. Văn học); Võ Nguyên Giáp (2000). Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân). Võ Nguyên Giáp (2009). Những năm tháng không thể nào quên (Nhà xuất bản Trẻ) và hàng chục công trình khác, trong đó có nhiều công trình đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, …

 Một trong những tư tưởng chính được tướng Giáp nhấn mạnh là tư tưởng nhân dân là gốc (chứ không phải lấy dân làm gốc như nhiều người vẫn quen nói). “Cuộc vũ trang đấu tranh của nhân dân ta đã thu được thắng lợi là vì trụ cột của cuộc kháng chiến là Quân đội nhân dân (…) Quân đội đó từ nhân dân mà ra, chiến đấu vì quyền lợi của nhân dân, cho nên được nhân dân triệt để ủng hộ (…) Quân đội ta là quân đội của nhân dân lao động, của quần chúng công nông đông đảo (…) Quân đội nhân dân là một quân đội có một chiến lược, chiến thuật cách mạng, lấy tinh thần chính nghĩa của cuộc chiến tranh làm cơ sở, dựa trên phương châm kháng chiến trường kỳ”.[7]

Dù ở bất cứ cương vị nào, ý tưởng “mỗi người dân là một người lính” ăn sâu trong tâm trí của tướng Giáp. “Quân đội viễn chinh Pháp tưởng rằng chúng chỉ phải chiến đấu với một đội quân mới thành lập, thiếu súng, thiếu đạn, nhưng chúng đã phải chiến đấu với cả một dân tộc. Để kiểm soát những địa phương bị chiếm, chúng đã phải phân tán lực lượng trong hàng nghìn đồn bốt”.[8] Tiếp tục mạch suy nghĩ này, tướng Giáp quả quyết: “Lịch sử đấu tranh vũ trang và xây dựng quân đội ở Việt Nam là lịch sử của một dân tộc nhỏ yếu vốn là một nước thuộc địa, đất không rộng, người không đông, lúc đầu không có quân đội chính quy, đứng dậy chiến đấu chống lại quân đội xâm lược hiện đại của một nước đế quốc (…) Cuộc chiến tranh giải phóng  của nước Việt Nam là một cuộc chiến tranh nhân dân (…) Chiến tranh ở Việt Nam không phải chỉ là sự đọ sức giữa hai quân đội; ở đây bọn thực dân xâm lược phải đánh nhau với cả một dân tộc”.[9]

Tư tưởng coi quân đội Việt Nam là quân đội của nhân dân, xuất thân từ nhân dân và thuộc về nhân dân, chiến đấu vì nhân dân là tư tưởng xuyên suốt của tướng Giáp. Bản chất của chiến tranh nhân dân thể hiện ở hai phương diện, một mặt, vẫn phải xây dựng một đội quân chính quy, hiện đại, được trang bị vũ khí hiện đại và có một kỷ luật sắt. Đó là một sự chắt lọc, tinh chất của cả một dân tộc trong việc chống ngoại xâm. Nhưng mặt khác, phát triển chiến tranh du kích tại những vùng bị chiếm đóng, với lực lượng quân đội dự bị, đồng thời, gia tăng hậu phương vững chắc về hậu cần ở những khu vực không bị chiếm đóng với phương châm “mỗi người dân là một người lính” dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương. “Vì nó [quân đội-NQH] là con em của nhân dân lao động, chiến đấu để thực hiện độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng (…) nên nó có một tinh thần chiến đấu rất cao và được nhân dân triệt để ủng hộ. Đó là nguồn gốc sức mạnh của quân đội ta. Quân đội ta đã chiến thắng vì nó là một quân đội nhân dân”.[10]

Người ta luôn có cảm giác tướng Giáp là người “dễ gần”, không quan cách, cậy chức cậy quyền. Trong bối cảnh không ít quan chức cách mạng, những người vẫn tự nhận là “đầy tớ của nhân dân”, nhưng đó chỉ là trên đầu lưỡi, từ khi có quyền lực trong tay đã thoái hóa, quay sang ức hiếp dân. Trong chiến tranh, và nhất là trong thời bình, kể cả trong hàng ngũ quân đội, không ít những vị tướng, sĩ quan quen thói hống hách, cửa quyền, coi lính như cỏ rác. Những tuyên bố của tướng Giáp về bản chất nhân dân của quân đội Việt Nam cho phép ta tin rằng ông nói thật lòng. “Dưới sự lãnh đạo của Đảng [cộng sản Việt Nam-NQH], lực lượng vũ trang của nhân dân đã ra đời. Quân đội của chúng ta thực sự là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì sự nghiệp của nhân dân mà chiến đấu (…) Nhân dân ta vô cùng vĩ đại. Quân đội ta, con đẻ của nhân dân, là một quân đội anh hùng. Từ nhân dân mà ra, được nhân dân đùm bọc, chăm sóc, thương yêu. Quân đội ta đã làm tròn và quyết tâm sẽ làm tròn nhiệm vụ (…) mà nhân dân và Đảng giao phó”.[11]

Một chi tiết khá thú vị. Khi đọc các bài viết của tướng Giáp, cụm từ “nhân dân” thường được đặt trước “Đảng cộng sản Việt Nam”. Nói về chiến thắng mùa xuân năm 1975, tướng Giáp hồi tưởng lại: “Vinh quang đời đời thuộc về nhân dân Việt Nam anh hủng, thuộc về Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh … Một câu hỏi lâu nay không ít người đã đặt ra: Vì đâu nhân dân Việt Nam từ không một tấc sắt trong tay … tiến lên giải phóng xã hội, giải phóng con người? Sẽ không tìm được câu trả lời cho câu hỏi này nếu không nhìn sâu vào chiều dày lịch sử xa xưa, vào nền văn hóa dân tộc, vào truyền thống và di sản quân sự của tổ tiên, vào đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng”.[12]

Là một người cộng sản “đặc”, nhưng tướng Giáp có những thời điểm đặt quyền lợi của quốc gia dân tộc lên trên lợi ích của đảng phái chính trị. Điều này thể hiện rõ giai đoạn 1945-1946. Đó cũng là giai đoạn vàng son khi Hồ Chí Minh có thể quy tụ một số đông trí thức và tầng lớp tinh tú, vượt qua những khác biệt về đảng phái, tôn giáo, cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Với nhu cầu quy tụ mọi lực lượng, bất kể đảng phái, tôn giáo nào, Việt Minh đã làm được điều đó. “Tôi đã được biết cụ Huỳnh [Huỳnh Thúc Kháng-NQH] từ hồi còn làm báo Tiếng Dân ở Huế. Cụ là một nhà nho có tinh thần yêu nước cao, có khí tiết, nhưng chưa hoàn toàn tin tưởng ở đường lối cách mạng của Đảng [cộng sản Đông Dương – NQH]. Khi chúng ta cử người tới mời, lúc đầu cụ tỏ ra ngần ngại (…) Tới Hà Nội, gặp chúng tôi, cụ Huỳnh tỏ ý lo lắng về cái mà cụ gọi là tình hình “đảng tranh” hiện thời. theo ý của cụ thì Việt Minh (…) giờ phải đặt quyền lợi của quốc gia lên trên, phải đoàn kết lại, không nên xung đột vì chuyện đảng phái (…) Cụ Huỳnh đã nhận giữ chức Bộ trưởng Nội vụ trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến sắp thành lập”.[13] Ở một bối cảnh khác, tướng Giáp quả quyết: “Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.”[14]

Đây là quan điểm trong cái mà hiện nay ta vẫn gọi là “chiến tranh bất đối xứng”. Điều này rất thích hợp và không bao giờ bị lạc hậu trong bối cảnh Việt Nam phải đương đầu với các cường quốc thế giới. Tư tưởng cốt lõi của Võ Nguyên Giáp là chiến tranh nhân dân, đúc rút kinh nghiệm của truyền thống đánh giặc ngoại xâm của ông cha ta và tri thức quân sự thế giới, một sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Lấy điển tích David đấu với Goliath trong kinh Cựu ước trong tương quan lực lượng quân sự giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. “Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái nỏ của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ”.[15]

Ở một chỗ khác, tướng Giáp giải thích rõ hơn chiến lược của ông với tư cách vị Tổng tư lệnh quân đội Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam. “Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân theo kiểu Việt Nam (à la manière vietnamienne) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng (…) Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố – con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!”[16]

Rõ ràng, “chiến tranh nhân dân” không phải là sáng kiến riêng của tướng Giáp cũng như của những nhà chính trị và quân sự Việt Nam hiện tại, mà là sự tiếp nối truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, hay “mỗi người dân là một người lính”, mỗi khi Việt Nam bị các nước mạnh xâm chiếm, đô hộ. Dầu không coi nhẹ vũ khí, nhưng cái cốt lõi vẫn là nghệ thuật dùng binh là tư tưởng chủ đạo của tướng Giáp. Một đội quân dù có binh hùng, tướng mạnh, nhưng không có tài dùng binh thì cũng không thể chiến thắng.

2.Tướng Giáp qua một số trải nghiệm của tác giả

Tướng Giáp với dân chúng châu Phi

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, khi đó tuy còn bé, đang ngồi trên mái trường phổ thông, nhưng tôi đã ham đọc báo hầu như hàng ngày, quan tâm tới những vấn đề thời sự trong nước và quốc tế, được biết chiến thắng Điện Biên Phủ đã có tác động lớn tới phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latin, quá trình giải thực dân hóa (de- colonialization) ở hàng loạt các quốc gia phát triển.

Sau này, khi có dịp du học ở Liên Xô (cũ), tôi có dịp trải nghiệm thêm. Dầu vậy, đó đa phần vẫn chỉ là những thông tin một chiều của “phe ta” mà chủ yếu là mang tính tuyên truyền, phục vụ cho những nhiệm vụ chính trị. Đành rằng đất nước những năm đầu sau thống nhất, lại bước vào cuộc chiến tranh biên giới tây nam và biên giới phía Bắc, nên những nhiệm vụ chính trị luôn được ưu tiên. Dầu vậy, tình cảm phải xuất phát từ trái tim, mà trái tim, tình cảm của con người nhiều khi lại “bướng bỉnh, vận hành” theo logic nội tại riêng của nó, cái logic của cuộc sống, nhiều khi vô cùng phức tạp. Không phải ý trí con người ta lúc nào cũng có thể khuất phục được. “Trăm nghe không bằng một thấy” – đúng như dân gian vẫn có câu cửa miệng. Phải qua trải nghiệm của bản thân thì những tình cảm của mình về vị tướng kiệt suất mới thể hiện rõ.

Ấn tượng đầu tiên về vai trò và ảnh hưởng quốc tế của tướng Giáp là đầu những năm 1990, câu chuyện hơn ba chục năm về trước. Năm 1993, tôi có điều kiện du học ở CHLB Đức theo chương trình học bổng của Quỹ học bổng Giáo hội liên hiệp của giáo hội Tin Lành Đức (Őkumenisches Studienwerk e. V, viết tắt là ŐSW). Cùng với chúng tôi là các bạn sinh viên đến từ nhiều nước, đa phần là những nước đang phát triển. Tuy học các ngành, nghề khác nhau, xuất thân từ các nền văn hóa khác nhau, nhưng đều là học bổng viên của cùng một tổ chức tôn giáo, chúng tôi ít nhất mỗi năm cũng vài ba lần có dịp cùng sinh hoạt chung trong những lần Quỹ tổ chức gặp mặt các học bổng viên trong những dịp dã ngoại. Gặp, làm quen các bạn bè từ châu Phi. Ngay khi tôi giới thiệu mình là người Việt Nam, các bạn châu Phi phấn trấn hẳn lên: Việt Nam – có ông Gijiap! Gijaip! Do cách phát âm của họ, tôi bỡ ngỡ không hiểu, không rõ họ ám chỉ ai. Thấy tôi đần mặt ra, các bạn giải thích luôn “cái ông tướng mà làm nên chiến thắng ở Điện Biên Phủ ấy”. À thì ra tướng Giáp, nói rồi tôi dạy các bạn ấy phát âm đầy đủ họ, tên của Đại tướng khả kính.

Rồi từ đó, cứ mỗi lần có dịp gặp nhau, các bạn châu Phi lại nhắc lại điệp khúc “Việt Nam – Võ Nguyên Giáp”, rồi chúng tôi lại cùng chia sẻ về vị tướng mà tất cả mọi người đều khâm phục. Điều tôi cảm nhận rõ là không chỉ những người đến từ Algeria hay Lybia vốn có quan hệ gần gũi với Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, mà ngay cả Ghana, Cônggô, Tansania mà ở nhiều nước châu Phi khác, đều tỏ rõ một sự hiểu biết và thiện cảm đối với người từng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Hơn nữa, điều tôi cảm nhận được rõ ràng rằng, dường như nhiều dân tộc châu Phi coi tướng Giáp không phải là tài sản riêng của Việt Nam, mà của nhân loại, hay ít ra là tài sản chung của những nước có hoàn cảnh lịch sử giống như Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc. Tướng Giáp như là vị tướng của chính họ. Đó là những tình cảm thực mà họ dành cho vị tướng kiệt suất của chúng ta, chứ không phải là hệ quả của những tuyên truyền hay ý chí chính trị của một nhóm người nào đó.

Tướng Giáp và giới học giả phương Tây

“Người hùng Điện Biên Phủ” nổi tiếng trong giới học giả phương Tây. Không phải ngẫu nhiên mà BBC xếp tướng Giáp là “vị tướng ở châu Á được nhắc tới nhiều nhất kể từ sau thế chiến thứ II”. Giới học giả Pháp đương nhiên không xa lạ gì với vị tướng đã làm cho nước họ phải thua trận, rút khỏi xứ Đông Dương trong cái vị thế không lấy gì làm tự hào, trong khi đó Anh, Hà Lan đều rút khỏi Indonesia, Malaysia, Myanmar, và nhiều nước trong khu vực “trong danh dự”.[17] Sau này, Tổng thống Pháp De Gaule năm 1964 đã phải thú nhận “giá như vào thời điểm 1946 người Pháp hiểu được ý chí của người Việt Nam, thì đã không để xảy ra chiến tranh giữa hai dân tộc”.[18] Có điều, chúng ta không thể thay đổi được lịch sử. Chúng ta có thể tìm thấy tên tuổi của tướng Giáp trong hàng trăm những công trình chuyên khảo, bài viết trực tiếp hoặc gián tiếp về Việt Nam của giới học giả phương Tây. Có thể nói, khi viết về cách mạng Việt Nam hay lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XX không thể không đề cập tới vai trò của vị tướng này.

Tôi muốn nói tới cảm tưởng về tướng Giáp của một học giả nổi tiếng CHLB Đức. Ông thầy tôi, giáo sư Bernhard Dahm (1932-2023) là một học giả nổi tiếng, giảng dạy về lịch sử và văn hóa Đông Nam Á, người sáng lập ra ngành Đông Nam Á học tại Đại học Passau, đồng thời cũng là một trong những thành viên chính trong Ban biên tập tạp chí Nghiên cứu châu Á (Asien) xuất bản ở Hamburg (CHLB Đức). Ông là tác giả của nhiều công trình về lịch sử Indonesia như Sukarno und die Revolution von Indonesia hay về Philippine như Rizal and the revolution in the Philippines, vv… Mỗi lần nói chuyện, chúng tôi đều học hỏi được rất nhiều điều bổ ích từ ông. Điều tôi khâm phục không chỉ là vốn kiến thức uyên bác, mà còn là lối nói chuyện khá hóm hỉnh của ông. Chẳng hạn: Có lần chúng tôi mời ông tới dự một bữa cơm. Cơm xong, trò truyện bên bàn chè nước, một trong số chúng tôi hỏi: “Thưa giáo sư, Đông Nam Á quá đa dạng về văn hóa. Mỗi khi nghiên cứu một quốc gia, ta phải tìm thấy một vài điểm lý thú nào đó của quốc gia đó hấp dẫn chúng ta tiếp tục nghiên cứu. Vậy khi nghiên cứu Việt Nam, giáo sư có thấy điểm gì hấp dẫn không?”

Nghe tới đó, vị giáo sư bỗng cười phá lên. Rồi khi tất cả lũ học trò chúng tôi trợn tròn mắt, không hiểu trong câu hỏi vừa rồi có điều gì khiến giáo sư buồn cười đến thế. Ông nói: “Việt Nam chúng mày buồn cười lắm. Tao thấy rất thú vị và buồn cười khi đọc CV (lý lịch) của chúng mày, đứa nào cũng vậy, đều có chung một “điệp khúc”. Họ và tên, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị B,… quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không! Thật là kỳ cục. Tôn giáo: Không. Chúng mày chả giống ai ở trên cái hành tinh này cả” – ông kết luận một cách chắc nịch.

“Chúng mày chả giống ai”, hay “chúng mày lập dị”, tùy theo cách dịch câu nói của ông giáo sư. Câu chuyện cách đây đã gần 30 năm, vị giáo sư cũng đã từ giã cõi trần để về với Chúa, mà câu kết luận trên đây của ông vẫn như văng vẳng bên tai tôi. Sau này, khi nghiên cứu về văn hóa, tôi mới càng thấy thấm thía những đặc thù riêng của văn hóa dân tộc mình.

Trở lại câu chuyện về tướng Giáp. Tại một cuộc Hội thảo về chiến tranh Việt Nam tổ chức ở Hà Nội đầu những năm 1990, tình cờ gặp tướng Giáp tại Hội thảo. Ông giáo sư khẩn khoản đề nghị GS. Phan Huy Lê, người cũng có mặt tại Hội thảo, tìm cách thuyết phục để được tướng Giáp dành ít phút tiếp chuyện. Qua giới thiệu của GS. Lê, tướng Giáp vui vẻ nhận lời. Hai người lần đầu tiên có điều kiện gặp nhau. Câu chuyện, như giáo sư sau này thuật lại, bắt đầu như sau:

Bernhard Dahm: Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới Đại tướng Giáp vì đã cho phép tôi có được cuộc gặp này. Tôi đã từng có dịp gặp Tổng thống Indonesia, rồi Tổng thống Philippine, và nhiều lãnh đạo ở Đông Nam Á. Đại tướng là vị lãnh đạo cao nhất của Việt Nam mà tôi hôm nay có dịp may mắn được gặp, tuy rằng tôi biết rằng giờ đây Đại tướng tuổi cũng đã cao và nghỉ hưu.

Tướng Giáp: Tôi cũng rất hân hạnh gặp giáo sư, vừa nghe qua GS. Lê có kể qua về giáo sư và cảm thấy giáo sư là người thẳng thắn, dễ gây thiện cảm.

Bernhard Dahm: Cá nhân tôi rất có thịnh tình với Đại tướng. Cũng không dấu giếm gì, là người nghiên cứu, nên có cuốn sách nào của Đại tướng được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, nói chung là các ngôn ngữ châu Âu, tôi đều đã đọc cả, dĩ nhiên trừ những cuốn nào chưa được dịch. Giá như là tôi cũng còn trẻ để có thể học tiếng Việt! (giáo sư vừa nói vừa cười, làm câu chuyện sôi nổi hẳn lên!)

Tướng Giáp: Tôi cũng đang hơi tò mò về thân thế của giáo sư. Qua GS. Lê tôi được biết giáo sư tuy là chuyên gia về Indonesia, nhưng lại rất am tường về Việt Nam và cũng rất yêu quý Việt Nam. Vậy là sao?

Bernhard Dahm: Quả thật trước đây, thú thực với Đại tướng, tôi hầu như chả biết gì về Việt Nam cả. Nhưng vào những năm 1971-1972, tôi có dịp làm giáo sư thỉnh giảng ở Đại học Yale (Hoa Kỳ). Hàng ngày chứng kiến các cuộc biểu tình của dân Mỹ phản đối chiến tranh Việt Nam, đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Tôi tự nhủ. Quái lạ! Việt Nam là quốc gia về lãnh thổ thì đâu có lớn, lại cách nước Mỹ cả chục ngàn dặm. Vậy mà Mỹ lại phải đưa quân tới một nơi xa xôi như vậy. Từ đó, tôi mới tò mò, muốn khám phá về dân tộc này, nhờ các giáo sư Mỹ chuyên gia về Việt Nam giảng cho tôi về Việt Nam tựa như giảng cho một cậu học trò vậy. Từ đó, tôi có cảm tình với đất nước và con người Việt Nam.

Tướng Giáp: À vậy! … Vậy, phần lớn các cuộc biểu tình của dân Mỹ phản đối chiến tranh ở Việt Nam là do Đảng cộng sản Mỹ lãnh đạo chứ?

Bernhard Dahm (xua tay): Không! Không! Xã hội Mỹ khác với xã hội Việt Nam mình lắm. Quả thật, có Đảng cộng sản Mỹ, nhưng nó nhỏ bé lắm, chỉ vài ngàn đảng viên cộng sản và cũng không có địa vị đáng kể trong xã hội đến nỗi không ít giáo sư Mỹ cũng không nghĩ rằng trên đất nước của họ cũng có Đảng cộng sản. Do vậy, kính thưa Đại tướng, Đảng cộng sản Mỹ không có vai trò gì lớn trong những hoạt động này cả.

Tướng Giáp (ngạc nhiên!) Thế vậy à? Vậy nếu không phải là Đảng cộng sản Mỹ thì đâu là lực lượng chính trong các phong trào phản chiến ở Mỹ?

Bernhard Dahm (tiếp tục câu chuyện một cách bình thản). Thưa Đại tướng. Phần lớn các phong trào phản chiến ở Mỹ được phát động, dẫn dắt bởi các tổ chức Giáo hội Ki tô giáo (ở Mỹ đa phần là Công giáo và các hệ phái Tin Lành) ….

Sau đó, “khoảng cách” giữa hai người như được thu hẹp lại. Hai người như được trở nên gần gũi hẳn lên. Với tướng Giáp và cả giáo sư Bernhard Dahm, dường như buổi nói chuyện giữa hai con người đứng ở những địa vị hết sức khác nhau, mới thực sự là một cuộc “Hội thảo”. Sau này khi nói về Việt Nam, ông giáo sư đều không quên hình ảnh về tướng Giáp.

3.Một vài cảm nghĩ thay lời kết luận

Điểm qua một vài ý chính, bài viết không có ý muốn đi sâu thêm những tư tưởng quân sự chủ đạo của tướng Giáp. Điều chúng ta muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng tướng Giáp là một nhà tư tưởng quân sự, ông tiếp nối, phát triển cả một chủ thuyết quân sự đã được các bậc tiền nhân, từ Trần Quốc Tuấn, được Nguyễn Trãi cách đây 600 năm từng khái quát “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”,[19] phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam từ khi dựng nước đến nay luôn phải đương đầu với các kẻ thù mạnh, lấy sức mạnh của toàn dân tộc với ý chí sắt đá làm vũ khí chính, đương đầu với các thế lực ngoại bang, tinh thần tự lập, tự cường.

Không nghi ngờ gì, tướng Giáp có đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng triết lý khoa học quân sự cũng như triết học của riêng Việt Nam.

Dù là vĩ nhân, nhưng tướng Giáp vẫn là một con người bình dị với bao nỗi ưu tư, trăn trở. Điều ông trăn trở lớn nhất là Việt Nam chưa phải là quốc gia hùng cường. Người Việt Nam ta vẫn luôn tự hào về tinh thần yêu nước, nhưng một dân tộc hùng cường không thể chỉ thể hiện sức mạnh, trong thời chiến, sức mạnh trong chống ngoại xâm, mà phải thể hiện sức mạnh trong giáo dục, trong xây dựng và phát triển quốc gia. Điều tôi vẫn luôn băn khoăn, tại sao tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của người Việt chỉ thể hiện rõ trong thời chiến, mỗi khi đất nước bị ngoại bang xâm chiếm, nhưng lại khá mờ nhạt trong thời bình, trong xây dựng đất nước. Đây quả là gót chân Achiles của chúng ta, khiến cho chúng ta chưa bao giờ trở thành cường quốc lớn trong khu vực.

Kinh nghiệm của hầu hết các nước phát triển đều nhờ thành công trong giáo dục. Nhìn ra thế giới, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Singapore đều thành công nhờ có tinh thần dân tộc và bắt đầu từ giáo dục. Tuy đất không rộng, người không đông, nhưng đó đều không phải là những quốc gia nhỏ bé theo nghĩa bóng của từ này. Một quốc gia giáo dục yếu kém không thể là một quốc gia hùng cường. Tiếp nối truyền thống chống ngoại xâm, từ Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo đại vương, Lê Lợi, Quang Trung, tướng Giáp và các thế hệ tiền bối đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của họ đối với dân tộc một cách vẻ vang, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà thế kỷ XX.

“Nhân vô thập toàn” – tướng Giáp vẫn là con người của lịch sử, không thể bứt ra khỏi bối cảnh chiến tranh Việt Nam và bối cảnh quốc tế chiến tranh lạnh. Dầu thế nào, so với nhiều nhân vật lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, tướng Giáp vẫn là một trong những nhân vật ít gây tranh cãi hơn cả. Theo truyền thống xưa nay của dân Việt vốn trọng tướng hơn trọng vương (nếu Lê Lợi hay Quang Trung không có công đánh đuổi quân xâm lược Minh-Thanh, hẳn chả mấy ai biết tới họ!), tướng Giáp sống mãi trong dân chúng như Đức thánh Trần thời nay.[20]

Có điều, mỗi thế hệ có những nhiệm vụ lịch sử riêng, chúng ta không nên chỉ “gậm nhấm” quá khứ, nịnh ông bằng những lời sáo rỗng như ta vẫn thấy không ít những Hội thảo “mang tính cúng cụ”, mà phải thể hiện cái tinh thần dân tộc trong đào tạo và nghiên cứu, trong giáo dục, trong việc xây dựng quốc gia cường thịnh về kinh tế, chính trị và văn hóa – đó mới là tình cảm đích thực của chúng ta dành cho tướng Giáp.

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

-Cadiere L (2010), Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt, tập 3, người dịch Đỗ Trinh Huệ, Nxb. Thuận Hóa, Huế.

-Dutton George (2024), Cuộc nổi dậy của Tây Sơn (The Tay Sơn uprising), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

-Võ Nguyên Giáp (1959), Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

-Võ Nguyên Giáp (1977), Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội.

-Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2006), Tổng tập hồi kỳ, Nxb. Quân đội nhân dân.

-Kant I (2021), Đặt cơ sở cho siêu hình học về đức lý, Nxb. Hồng Đức.

-Hà Văn Tấn (1984), Mấy suy nghĩ về lịch sử Việt Nam và tư tưởng Việt Nam. Trong: Một số vấn đề lý luận về lịch sử tư tưởng Việt Nam, Hà Nội, tr. 29-30.

-Neil Sheehan (ngày 26 tháng 5 năm 2017). The New York Times, ngày 25 tháng 6 năm 2018 (vikipedia). 

-Tướng Giáp: người hùng và nghịch lý. https://www.bbc.com/vietnamese/world/2013/10/131005_vonguyengiap_hero_intengible

-Phim tài liệu: Indochina People’s War in Colour. History Channel, tập 2 (Wikipedia)

-Nguyễn Trãi, Bình Ngô Đại Cáo, bản dịch của Ngô Tất Tố. https://vi.wikisource.org/wiki/Bản_bản_dịch_của_Ngô_Tất_Tố

Chú thich

[1] Việc Napoleon Bonaparta đưa quân xâm lược gần như toàn bộ châu Âu, cũng như xung đột giữa vị Hoàng đế này với Giáo hoàng Pio VII tạo ra nhiều tranh cãi trong việc đánh giá tính cách của vị tướng này về phương diện đạo đức.

[2] Xem: Dutton George (2024), Cuộc nổi dậy của Tây Sơn (The Tay Sơn uprising), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[3] Kant I (2021), Đặt cơ sở cho siêu hình học về đức lý, Nxb. Hồng Đức, tr. 141.

[4] Cadiere L (2010), Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt, tập 3, người dịch Đỗ Trinh Huệ, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 48.

[5] Hà Văn Tấn (1984), Mấy suy nghĩ về lịch sử Việt Nam và tư tưởng Việt Nam. Trong: Một số vấn đề lý luận về lịch sử tư tưởng Việt Nam, Hà Nội, tr. 29-30.

[6] Võ Nguyên Giáp nghiên cứu và chịu ảnh hưởng của nhiều chính trị gia cũng như nhà quân sự như Carl von Clausewitz (1780-1831), Tôn Tử, George Washington, và Vladimir Lenin, mặc dù cá nhân ông cho rằng T. E. Lawrence và Napoléon Bonaparte là hai người có ảnh hưởng lớn nhất đến ông. Đáng chú ý trong số này Clausewitz không chỉ là một vị tướng Phổ với tài thao lược quân sự, góp phần đáng kể trong việc liên kết các đạo quân liên minh Phổ-Nga-Anh đánh bại Napoleon. Bên cạnh đó ông còn là một nhà lý thuyết quân sự với công trình nổi tiếng “Vom Krieg” bàn thảo nhiều vấn đề triết học quân sự, lấy tham chiếu là các chiến dịch của Frederick Đại Đế và Napoleon. Clausewitz có câu châm ngôn nổi tiếng “chiến tranh là sự tiếp tục chính sách bằng các phương tiện khác”. Ảnh hưởng của Napoleon tới tướng Giáp tới mức các báo chí phương Tây còn gọi ông với biệt danh là “Napoleon đỏ” (Red Napoleon) do tài chỉ huy quân sự của ông đã đánh bại hoàn toàn âm mưu xâm lược của nước Pháp trong trận Điện Biên Phủ năm 1954. 

[7] Võ Nguyên Giáp (1959), Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 16-17.

[8] Võ Nguyên Giáp (1959), Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 26.

[9] Võ Nguyên Giáp (1959), Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 97-100.

[10] Võ Nguyên Giáp (1959), Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 132.

[11] Võ Nguyên Giáp (1977), Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 14-15.

[12] Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2006), Tổng tập hồi kỳ, Nxb. Quân đội nhân dân, tr. 1348.

[13] Võ Nguyên Giáp (1977), Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 348-349.

[14] Phim tài liệu: Indochina People’s War in Colour. History Channel, tập 2

[15] Neil Sheehan (ngày 26 tháng 5 năm 2017). The New York Times, ngày 25 tháng 6 năm 2018. 

[16] Neil Sheehan (ngày 26 tháng 5 năm 2017). The New York Times, ngày 25 tháng 6 năm 2018. 

[17] Xem: Tướng Giáp: người hùng và nghịch lý. https://www.bbc.com/vietnamese/world/2013/10/131005_vonguyengiap_hero_intengible

[18] Vấn đề là vào thời điểm năm 1946, với người Việt Nam không chỉ là đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn là cuộc chiến vì chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ, bởi trong thời kỳ thuộc địa, người Pháp phân chia và coi Bắc Kỳ và Trung Kỳ là bảo hộ, còn Nam Kỳ là thuộc địa.

[19] Nguyễn Trãi, Bình Ngô Đại Cáo, bản dịch của Ngô Tất Tố. https://vi.wikisource.org/wiki/Bản_bản_dịch_của_Ngô_Tất_Tố

[20] Tác giả có dịp trải nghiệm mộ tướng Giáp ở Quảng Bình hàng ngày, kể cả những ngày giông bão, luôn có hàng trăm người tới viếng.