Press "Enter" to skip to content

TRIẾT HỌC VIỆT NAM – TẠI SAO KHÔNG?

TRIẾT HỌC VIỆT NAM – TẠI SAO KHÔNG?

Trần Văn Đoàn

Academia Catholica (Đài Loan) &

Học Viện Công Giáo Việt Nam (Việt Nam)

Lời Cảm Tạ

Bản văn sau là phần đầu bài thuyết trình “Nhìn lại Triết học tại Việt Nam – Hướng đi nào cho Triết Việt?” do Khoa Triết Học và Trung Tâm Tôn Giáo Đương Đại (Đh Quốc Gia Việt Nam tại Hà Nội) đồng tổ chức tại Đh Khoa Học Xã Hội Nhân Văn (13.07.2023), và tại Khoa Triết Học Đh Sư Phạm Hà Nội (29.12.2023) dịp tôi 75 tuổi đời. Tôi xin chân thành cám ơn quý học viên, quý vị đồng nghiệp đã tham dự và trao đổi ý kiến. Đặc biệt xin cám ơn ban lãnh đạo Khoa Triết Học của hai Trường, Trung Tâm Tôn Giáo Đương Đại và Gs Nguyễn Quang Hưng đã dành cho tác giả vinh dự này. Thâm tín là bài viết còn nhiều chỗ sai sót, cần được bổ túc sửa đổi, tác giả rất mong nhận được chỉ giáo của độc giả.

Cũng xin độc giả lưu ý: trong bài này, thuật ngữ triết Việt đồng nghĩa với Việt triết hay triết học Việt Nam, nhưng khác với triết học tại Việt Nam. Mọi triết học tại Việt Nam có thể được “gạn đục khơi trong” giúp triết Việt phong phú hơn, nhưng tự chúng chưa là triết Việt. Chúng chỉ thành triết Việt khi đã thấm nhập vào tim óc xương máu người Việt, như là thành tố của văn hóa và kim châm của cuộc sống (như thấy trong ca dao, tục ngữ). Thứ nữa, xin độc giả Việt làm quen với thế giới học thuật, chỉ nhắc tên mà không thêm chức tước hay danh xưng khi bàn về ai đó, thí dụ như Lương Kim Định hay Kim Định, Trần Đức Thảo hay Thảo (thay vì Giáo sư Kim Định, Gs Thảo, v.v.). Đây là thông lệ trong học thuật. Hoàn toàn không có gì bất kính nơi đây. Và cuối cùng, tác giả cố gắng trung thực với gì mình biết và cảm nghĩ (mà cảm nghĩ thì có thể là sai, mà sự hiểu biết luôn luôn bị hạn chế), nên có thể tạo ra hiểu nhầm, xúc phạm đến một vài nhà triết học. Một điều khó tránh! Tác giả thành tâm cáo lỗi trước.

Nhập Đề

Bài “Triết học Việt Nam – Tại sao Không?” sau đây vốn là phần thứ nhất của bài thuyết trình “Nhìn lại Triết học tại Việt Nam – Hướng đi nào cho Triết Việt?” tại Đh Khoa học Xã hội Nhân văn và Đh Sư phạm Hà Nội (07.2023). Vì bài thuyết trình rất dài trên 3 vạn chữ, nên để phù hợp với quy định công bố trên các tập san nghiên cứu, tác giả viết lại thành ba bài với ba đề tài: “Triết học tại Việt Nam – Tại sao không” phản tỉnh và phê phán (critical reflection) lối nhìn phủ định hay nghi hoặc Việt triết của giới trí thức Việt và Pháp; “Triết học Tây phương và Ý thức Việt Triết” nhìn lại (retrospect) triết học tại Việt Nam vào thế kỷ 20; và “Việt Triết: Hướng về Tương Lai” là suy tư về (những) hướng đi (prospect) của triết Việt. Phần thứ ba này ghi nhận những nỗ lực hiện nay của giới triết học Việt ở trong và ngoài nước: những cơ quan học thuật như Viện Triết Học (Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội), Khoa Triết Học, Đh Khoa Học Xã Hội Nhân Văn (Đại Học Quốc Gia Việt Nam, Hà Nội), Đh Sư Phạm Hà Nội, Khoa Văn Hóa học, ĐhKHXHNV (Đh Quốc Gia Việt Nam, Tph Hồ Chí Minh) những tổ chức nghiên cứu như Viện Triết Đạo (Washington DC, 1998-2008), Viện Việt Học (California), Nhóm Nghiên cứu Việt Triết (1987-), Trung tâm Minh Triết (Hà Nội), cũng như những nỗ lực cá nhân của giới trí thức Việt tại hải ngoại trên các tập san văn học, tôn giáo… như Triết Đạo (Washington DC, 1998), Triết (California), Định Hướng (Reichstett), Thời Đim (California), Vietnamologica (Canada), Tư Tưởng (Úc)… và các mạng lưới điện tử như Dũng Lc, Talawas, Tiền V, Da Mu, Hợp Lưu, Gió-O, DCV online, Vanviet, v.v..

“Triết học Việt Nam – Tại sao Không?” nhận định rằng triết Việt vốn có từ thời người Việt hiện hữu, và luôn biến đổi, phát triển trong quá trình giao tiếp với các nền văn hóa khác. Nói cách chung, trong văn hóa Việt đã có triết Việt, điều mà chúng ta gọi là minh triết hay triết lý, hay “triết học dân gian” (Léopold M. Cadière). Đã đến thời mà chúng ta cần khai quật những giá trị cốt lõi cũng như những tư duy nền tảng, phân tích và hệ thống hóa chúng thành một nền triết học. Quan trọng hơn nữa, Việt triết ý thức được thời của học theo, lập lại chỉ là giai đoạn đầu. Đã đến lúc mà triết Việt dám ngẩng đầu lên khẳng định giá trị của riêng mình, đã và có thể đóng góp cho cộng đồng Việt và quốc tế những gì. Luận chứng bài viết như sau:

  • Vạch ra cái nghịch lí cho là Việt Nam không có triết học, hoặc thảng có thì đó chỉ là triết lý, hay tư tưởng mà không có triết học. Nghịch lí nằm trong sự kiện, nếu không có bất cứ một định nghĩa duy nhất nào của triết học thì làm sao biết được tư tưởng nào là triết học hay không phải là triết học? Để phản bác ý kiến chối bỏ sự hiện diện của Việt triết, tôi nhấn mạnh đến sự kiện là không có một định nghĩa cố định, duy nhất, chắc chắn mà chỉ có những lối hiểu biết khác nhau về triết học của mỗi dân tộc, vào các thời đại khác nhau. Việt triết được hiểu trong nguồn mạch hiểu biết của người Việt về cách thế sống, qui luật sống, ý nghĩa cuộc sống… của mình. Chính vì vậy mà minh triết, triết lý phải được hiểu như là cách thế/hình thức người Việt diễn đạt cuộc sống vào thời đại, xã hội, trong những điều kiện sống khác nhau.
  • Phản tỉnh, nhìn lạign đục khơi trong triết học tại Việt Nam để tiếp nối xây dựng và bồi đắpnền tư duy Việt, theo nghĩa nguyên thủy của philosophia (φῐλοσοφῐ́), đó là yêu quý sự khôn ngoan, tìm kiếm sự hiểu biết.Phản tỉnh là nhn thức về rào cản khiến triết Việt không dễ hình thành, khó được công nhận và chậm trễ phát triển. Phản tỉnh là ý thức về tâm thức tự ti quá độ và tự cao quá lố. Phản tỉnh nhận ra nhược điểm như não trạng “ếch ngồi đáy giếng”, dễ dàng tự mãn, dị ứng với phản biện, thiên về giáo điều… Phn tnh là thy được viễn cảnh “mất nhiều hơn được” của việc lạm dụng quyền lực và ỷ lại vào bạo lực để biến triết học thành một mớ giáo điều, hay đúng hơn, một ý thức hệ mang tính phản triết học. Phản tỉnh là nhìn xa cảnh báo mối nguy cơ đối nghịch cực đoan mù quáng giữa những tín đồ chỉ biết mình mà không biết người (thấy nơi các chủ thuyết vô thần hay hữu thần, duy vật hay duy linh, duy nghiệm hay duy lí, xã hội hay tư bản, bảo thủ hay khai phóng….

Nói tóm lại, phản tỉnh giúp tìm ra những điểm nghẽn tạo ra cơn bệnh trầm kha khiến triết Việt biến dạng và bị hắt hủi.  

1. Đặt Vấn Đề – Triết Học Như Tôi Hiểu

Nói về Việt triết, cần phải đối diện với nghi hoặc người Việt có triết học hay không. Không biết tự khi nào, người Việt tự chối bỏ, hay không dám công nhận, là mình có một nền triết học. Đa số bằng lòng với thân phận học trò: học theo, nói theo, lập lại cái gì người hàng xóm Trung Quốc bắt học; khiêm cung nhận mình chỉ có chút gì đó gọi là tư tưởng. Không chỉ dân thường, mà ngay cả những bộ óc tầm mức lớn như Trần Trọng Kim cũng khiêm nhu như vậy.[1] Chính vì thế mà Léopold Michel Cadière, một nhà truyền giáo và học giả về Việt Nam, tuy vốn có tình yêu sâu đậm với đất nước Việt,[2] thẳng thắn nhận định (tuy không hẳn chính xác lắm) là Việt Nam không có triết học (hàn lâm):

“Không có triết học Việt Nam. Cùng với toàn bộ văn hóa Trung quốc, dân Việt đã thâu nhận lấy những nguyên lý triết học lâu đời được người Tàu chấp nhận. Người Việt đã không in được vào những nguyên lý ấy một sắc thái riêng nào cả, họ không thay đổi gì, và có thể nói là họ cũng chẳng đả động gì đến cả. Các học thuyết trong kinh điển truyền sang thế nào, thì nho sĩ Việt Nam chấp nhận như thế; riêng lối giải thích của Chu Hi, thì họ tiếp nhận mà không tranh luận gì cả, thường thì họ không hiểu cho đúng, và cũng chẳng đào sâu thêm nữa. Trừ mấy tác phẩm về luân lý ra, thì không có tác phẩm triết học nào gốc từ Việt Nam mà ra. Vì thế, khi nói là không có triết học Việt Nam, thì tôi có ý nói là không có một hệ thống triết học, không có những học thuyết có thể xếp thành một bộ môn, không có một triết học có lý sự, tóm tắt được những nỗ lực tìm tòi, suy tư, ngưỡng vọng, của tâm hồn người Việt. – Tuy nhiên, nếu không có triết học riêng của lớp học giả, thì cũng vẫn có một thứ triết học của lớp bình dân, vì ở trình độ văn minh nào con người ta cũng có những ý kiến về vũ trụ vạn vật, về con người, về khả năng và hành động của mình. Những ý kiến đó tuy người ta có suy tư thêm ít nhiều, có làm cho minh bạch đôi chút và ý thức được qua loa, nhưng nó có thực đó, và vẫn biểu lộ ra trong ngôn ngữ”.[3]

Nhận định của Cadière có nhiều điểm đáng bàn. Thực ra, ông không chối bỏ triết Việt, nhưng hạ thấp, coi “triết lý Việt” chỉ là triết học “bình dân”, thiếu hệ thống, thiếu sáng tạo, thiếu suy tư, thiếu luận chứng…

Trong phần này, tôi không hoàn toàn phủ định lối nhìn của Cadière, nhưng muốn vạch ra cái nghịch lý của ông về triết học. Nghịch lý trầm trọng nhất là ông đã vi phạm cái “lỗi phạm trù” (category mistake), lấy “râu ông cắm vào cằm bà”, áp đặt phương pháp suy tư Tây phương trên lối suy tư và cách sống Việt. Cadière không để ý đến sự kiện là người Việt quan tâm đến câu hỏi “làm người” hơn là câu hỏi “ người?”. Nghịch lý thứ hai của ông, đó là lối hiểu triết học theo lối nhìn kinh viện hàn lâm (scholastic, academic), “phân biệt” coi thường (discrimination) triết học bình dân. Cadière quên rằng, trước Socrates, những nhà triết học Hi lạp nói chung cũng chẳng có mấy hệ thống, được nhắc lại (bởi quần chúng) với những câu chuyện “tầm phào” “mua vui cũng được một vài trống canh” (Nguyễn Du) (những “giai thoại” (anecdotes) về Thales, Diogenes, Zeno và cả Socrates). Họ đâu có hệ thống, phương pháp hay nguyên lý nào đáng nói (trừ Heraclite và Parmenide, và dĩ nhiên Socrates được Plato hệ thống hóa).

Nói chung, những nghịch lý nêu trên đều phát sinh từ lối suy nghĩ võ đoán, quyền uy, thiếu nền tảng: nếu không có một định nghĩa triết học duy nhất, chắc chắn, bất biến, phổ quát và tất yếu, nếu không có nền tảng chung, thì làm sao có thể xác định tư tưởng này nọ mới là triết học, và nền triết học này hay triết học nọ đúng hay sai? Tôi xin đi vào chi tiết trong phần sau.

2. Sai Lầm của Cadière hay là Sai Lầm của Chúng Ta

Không chối bỏ tâm huyết và sự hiểu biết rộng của Cố Cả (tên tiếng Việt của Cadière), nhưng không thể bỏ qua những bất cập trong nhận xét của ông.

(1) Sai sót rõ ràng nhất là khi Cadière tách rời lối suy nghĩ (phải) “là người” của giới triết học tân đại (modern philosophers) và Hán nho ra khỏi lối suy nghĩ “làm người” của giới bình dân Việt. Như Kim Định nhận xét, Cadière không nhận ra, tư tưởng bình dân là lối hiểu triết lý Nho một cách trung thực của chính Nho gia Việt, được họ truyền bá trong dân gian.[4] Điều này dễ hiểu! Như trong bất cứ tổ chức tôn giáo hay chính trị nào, Nho gia Việt phải tuân thủ lối giải thích theo qui định của triều đình, theo qui lệnh của trường thi. Ai vi phạm có thể bị kết án rất nặng. Do vậy, họ chỉ có thể nói lên ý nghĩ riêng của họ qua cửa miệng dân gian. Nói cách khác, chính Nho gia Việt (các thầy đồ là chính) truyền bá những tư tưởng như vậy trong dân gian. Hiểu như vậy, công nhận có một loại triết học bình dân nhưng chối bỏ không công nhận triết lý Việt (của Nho gia) xem ra rất mâu thuẫn.

(2) Cadière cũng quên đi một hiện tượng khác thấy nơi mọi người, đó là không ai hiểu hoàn toàn giống nhau về cùng một tư tưởng, một người, một xã hội hay lớn hơn, một dân tộc. Hiểu biết khác với tri thức, vì hiểu biết luôn gắn liền với cuộc sống, tức hiểubiếtlàm người” trong khi tri thức (thuần túy) là sự biết (tri) về con người phải (như vậy). Vì gắn với cuộc sống, hiểu biết khác biệt giữa người Tầu và người Việt về Nho giáo là điều tất nhiên.[5] Điều này thấy rõ ràng trong khoa học về Thánh Kinh. Có mấy ai hiểu Thánh Kinh y hệt nhau ngay cả khi được dậy về Thánh Kinh như nhau. Hiện tượng này cũng thấy nơi người Tầu, Nhật, Đại Hàn. Mỗi dân tộc (hay mỗi người) đọc Tư Thư đều có một lối lí giải khác biệt nào đó, tuy rằng điểm chính có thể giống nhau. Hiểu biết khác nhau tạo ra những nền Nho giáo Nhật, Đại Hàn, Việt tại Viễn Đông. Từ sự kiện hiển nhiên này, khi cho rằng người Việt hiểu theo (hay hiểu hệt như) người Tầu, Cadière không nhìn thấy đặc tính của hiểu biết chính là khác biệt. Bất cứ sự đồng nhất trong hiểu biết nào về con người cũng chỉ mang tính giai đoạn, tạm thời. Ngay cả khi văn hóa khoa cử, qui luật thi cử quan trường bắt buộc Nho sinh phải hiểu và viết theo lối chính thống do vua hay triều đình định hướng, họ vẫn có thể biểu lộ được ý riêng của mình trong thi ca, hay trong những câu chuyện dân gian. Đây là lí do tại sao Kinh Thi được coi như sách diễn tả đạo Nho một cách độc đáo và trung thực hơn các kinh khác như Lễ Kinh, Hiếu Kinh, v.v.[6]

(3) Điểm đáng lưu ý khác mà Cadière quên nhắc, đó là vẫn có những đại nho như Nguyễn Trãi, Lê Quí Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm và đặc biệt Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ, và nhiều Nho gia khác. Mỗi người trong họ đều có một cái nhìn riêng, tuy rằng về đại thể họ vẫn theo đúng cương luận Nho giáo Chu Hi diễn giải. Nhưng một điểm khác biệt quan trọng mà tôi nhấn mạnh nơi đây, đó là khác với Chu Hi hay Vương Dương Minh vốn đại diện cho uy quyền nhà nước, những đại nho Việt thường là thường dân, cựu quan chức (từ chức về hưu), sống ẩn dật, không có chút quyền bính nào trong tay. Thế nên tuy ảnh hưởng của họ trên nền giáo dục Nho học đất nước không rõ nét như các họ Vương, Chu hay hai anh em họ Trình bên Tầu, nhưng nho gia Việt được người dân yêu thích hơn. Không bị quyền lực làm phủ bại, tư tưởng của họ có chất Việt hơn. Đây là lí do, triết học Việt nằm sâu dưới cái tầng ý thức của dân gian.

(4) Sai lầm trầm trọng hơn cả của Cadière là sai lầm phạm trù (categorical mistake, mà tôi đã nói qua trong Việt Triết Luận Tập 1);[7] hay nói theo ngôn ngữ bình dân “lấy râu ông gắn vào cằm bà”. Đó là việc áp đặt một lối sống xa lạ, lối suy tư khác biệt cũng như quy luật (logic, rules) lạ hoắc trên dân bản xứ, bắt họ phải theo. Cadière lấy hệ thống khoa học với lối suy tư duy lý (logic), coi nó như là điển phạn (criteria/paradigm) duy nhất để phán đoán triết học. Ông bỏ qua hai yếu tố: thứ nhất có nhiều hệ thống triết học khác nhau. Hệ thống duy lý, tuy chủ đạo, vẫn chỉ là một trong nhiều hệ thống triết học như duy nghiệm, duy tâm, duy vật, thực chứng, thực dụng, v.v. Thứ hai, triết học tự nó đi trước hệ thống. Aristotle hệ thống hóa các quan niệm triết học từ thời trước Socrates cho tới Plato chứ không phải là ông tạo ra triết học hoàn toàn mới mẻ. Chính vì đồng nhất hóa triết học với hệ thống triết học khiến Cadière mới nghĩ là người Việt không có triết học.[8]

3. Biện Luận cho Việt Triết

Để chứng minh có triết Việt hay không, phê bình những lí thuyết chối bỏ hay nghi hoặc Việt triết như của Cadière hay Trần Trọng Kim, hay cả của Trần Văn Giàu vẫn chưa đủ. Cần phải chỉ ra cái mà ta phải công nhận mang tính triết, và làm nên triết. Tôi xin dùng chiến thuật “công thủ”, nói theo “ngôn ngữ nhà binh”, một đầu chứng minh cái sai phủ nhận Việt triết, và một đầu khác đưa ra những đặc tính triết của người Việt để thuyết phục. Tôi xin bắt đầu với lối nhìn về triết học, triết lý và minh triết mà giới triết học công nhận hay không tranh luận để thấy rằng việc chối bỏ triết Việt tự nó đã “phản triết học”.

3.1. Một Định Nghĩa Cố Định, Duy Nhất cho Triết Học?

Thoạt tiên, không có (và không thể có) một định nghĩa triết học một cách chính xácduy nhất như toán học, bởi lẽ triết học luôn gắn liền với cuộc sống đa dạng và thế giới chúng ta sống (hay thế sinh/life-world), mà cuộc sống cũng như thế giới chúng ta sống không ngừng thay đổi. Triết học (hiểu một cách rộng rãi và thực tiễn) là suy tư về cuộc sống, tìm hiểu qui luật của cuộc sống, cách thế sống, phương cách đối phó với những vấn nạn của cuộc sống, tìm hiểu sự vật, thế giới liên quan đến sự sống…. Chính vì thế mà hầu như mỗi triết gia đều hiểu, diễn tả và đưa ra nhận định hay giải pháp cho cuộc sống theo lối nhìn của mình. Nói cách khác, mỗi nền triết học là một bức tranh khác nhau về cuộc sống, đưa ra một ý nghĩa của sự sống. Triết gia được tôn trọng là vì họ khám phá ra ý nghĩa, lí do, phương hướng, cách sống, đó là tìm ra mục đích sống, qui luật sống, cách thế sống, và định vị tương lại của cuộc sống. Hiểu theo nghĩa này, triết học Hi lạp là những hiểu biết của người Hi lạp có được từ những suy tư về thế giới sống của họ; triết học Trung quốc là hệ thống tri thức do người Tầu xây dựng từ nhận biết về thế giới, và về qui luật sống mà họ rút ra được từ tri thức và từ thực tế.

Hiểu triết học như trên, chúng ta có thể nói, giống như bất cứ dân tộc nào, người Việt qua bao ngàn năm tích lũy kinh nghiệm sống đã có một hay nhiều nền tri thức, một hay nhiều nền đạo lý, cũng như các phương thế sống, cảm nhận riêng của mình. Mỗi một nền tri thức, đạo lý, phương cách sống là điều mà chúng ta gọi là triết lý trong suy tư, đạo lý chỉ đạo cuộc sống và minh triết khi áp dụng vào thực hành trong xã hội. Vấn đề là phải đào bới, xây dựng và hệ thống hóa những triết lý, đạo lý, minh triết để xây dựng thành nền tảng cho nền triết học Việt mà thôi.

3.2. Đạo Lý: Minh Triết, Triết Lý và Triết Học

Vì người Việt quen hiểu đạo lý theo nghĩa rất rộng bao gồm minh triết, triết lý và cả đạo đức, và không đồng nhất, thậm chí đối chọi,[9] nên trong phần này, tôi tạm chỉ bàn về minh triết và triết lý như những hình thái của triết học. Tôi muốn nhấn mạnh đến việc chúng ta không thể tách rời minh triết ra khỏi triết lý, triết lý ra khỏi triết học. Tách rời rồi gán ghép ngôn ngữ tạo ra nghĩa mới luôn là một trò chơi của giới nho gia. Trò chơi chữ nghĩa (language-game/Sprachspiel nói theo L. Wittgenstein, Philosophical Investigations, 1953) của người Việt thường đi xa hơn, đôi khi quá xa, không lập lại cùng ý (tautology) hay tuân thủ luật chơi ngôn ngữ (văn phạm, cấu trúc), mà cố ý tạo ra ý mới, hay thậm chí khiến từ mất ngữ, ngôn từ không còn đồng nhất với ngữ nghĩa. Ý nghĩa không còn tại ngôn mà bị mất, biến dạng hay đôi khi ngược hẳn lại với ý nghĩa nguyên thủy. Trong phạm vi triết học, chúng ta “chơi chữ” bằng cách bẻ vụn triết học thành ba từ khác nhau, mang đẳng cấp khác biệt: triết học, triết lý và minh triết. Nhưng rồi sau đó quên bẵng đi ý nghĩa nguyên thủy, tạo ra một sự hỗn loạn, không còn ai biết chính xác ý nghĩ của triết học. Theo sự hiểu biết hạn hẹp, tôi hiểu như sau:

Minh Triết

Trên thực tế, ý niệm về triết (哲) vốn có từ lâu đời, và được hiểu dưới những khái niệm khác nhau.[10] Minh triết (明哲) là một khái niệm biểu hiện “triết” (hay lí do tại sao phải sống thế này hay thế nọ) trong cuộc sống thực tiễn. Nó diễn tả sự hiểu biết trông xa nhìn gần, chờ trước đợi sau, biết tính toán điều lợi điều thiệt, cái hơn cái kém, cái được cái mất… trong cuộc sống. Minh triết được đúc kết từ kinh nghiệm chung trong cuộc sống thành những ý tưởng, những lời khuyên dậy đầy khôn ngoan (minh minh triết, sách Đại học, chương 1) giúp chúng ta tránh cái thiệt, cái kém, cái hại (minh triết bảo thân, Kinh Thi, thiên Đại Nhã – Chưng Dân), để có được cuộc sống an bình. Minh triết được coi như là lí lẽ nền tảng (paradigm, model, social pattern) với công năng chính là cảnh báo, khuyên răn tránh cái xấu, biện hộ cho cái tốt, khuyên nhủ làm việc tốt, tôn trọng bảo vệ lợi ích chung. Đạo lý thường tình, hay đạo đức, luân lý xã hội thường là những bảng chỉ dẫn đúc kết từ minh triết, như thấy trong ca dao, tục ngữ, phong tục, tập quán.

Vì minh triết gắn liền với đạo làm người, với cuộc sống xã hội (cụ thể) trong một thời gian (giai đoạn), không gian (dân tộc, nơi chốn, quốc gia) cụ thể, nên nó mang tính địa phương, giai đoạn, lại gắn liền với cảm tính, không đủ độ khoa học, khách quan, và chỉ có hiệu quả cho một cuộc sống trong một xã hội nhất định vào một thời điểm nào đó. Do đó, bất cứ nền minh triết nào cũng chỉ là một nền tri thức mang tính chất phổ thông (general) và thiết yếu hay cần thiết đủ (contingent) và thông dụng vào một thời gian cũng như trong một xã hội nhất định. Để khách quan, minh triết cần phải dựa trên một nền triết lý mang tính phổ quát (universal) và tính tất yếu (necessary), lấy nó làm nền tảng căn bản để hiểu minh triết ở mọi nơi mọi thời, cũng như nắm được sự biến hóa, quy luật biến hóa của minh triết, v.v. Thí dụ, hành vi “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” là một loại minh triết, tuy thấy nơi giới nông dân, trong xã hội phong kiến, vẫn có giá trị nào đó trong giao tiếp xã hội ở bất cứ thời nào, tại bất cứ nơi nào, vì dựa trên triết lý “tôn ti trật tự” và trọng thực dụng (pragmatism). Tương tự, cách giao tiếp “có đi có lại mới toại lòng nhau”, “có thực mới vực được đạo”, hay chính sách “ngoại giao cây tre”, cũng chỉ có thể hiểu được dựa trên triết lý thực dụng nói chung. Quan niệm trật tự, thực dụng nơi đây mang tính phổ quáttất yếu, có giá trị ở bất cứ thời nào trong bất cứ xã hội nào.[11]

Triết Lý

Qua phân tích minh triết, chúng ta lần mò ra triết lý. Như nói trên, triết lý thực dụng có thể được coi như là lối nhìn chung (common sense)[12] của người Việt, và thấy rõ rệt trong trong đạo đức, luật lệ, phong tục, thậm chí niềm tin tông giáo, qua những thuật ngữ như đạo lý (道理), thường thức (常識), luân thường (倫常), v.v. Nói một cách khác, triết lý hay là đạo lý trong truyền thống Việt là nền tảng giải thích lí do (the rationals) tại sao phải thế này thế nọ. Triết lý là một nền khoa học nhân văn, mang tính phổ thôngthiết yếu. Thí dụ, triết lý thực dụng giải thích lí do tại sao người Việt thích “môn đăng hộ đối” trong hôn nhân; tại sao “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” trong cuộc sống cộng đồng; tại sao “tránh voi chẳng xấu mặt nào” khi giao tiếp với kẻ mạnh; tại sao họ dễ bị cám dỗ bởi lối sống “ăn xổi ở thì”, “đi tắt đón đầu”, v.v. , một lối sống không mấy tốt đẹp ngược lại với đạo lý nhân nghĩa lý trí tín, cần kiệm liêm chính.

Triết Học

Những loại hình triết lý thực dụng được phân tích (analytic) và kết hợp (synthetic) thành hệ thống (systematic) đưa ra nguyên lý và phương thế mà dựa vào đó chúng ta có thể áp dụng vào cuộc sống để đạt được cái lợi; hay dựa vào đó để có một phán đoán thiết thực, chính xác. Từ đó, người ta xây dựng qui luật (logic) của thực dụng, tính toán thế nào để nó đạt được thành quả tối ưu… Đó là những gì thuộc về hoạt động triết học (philosophizing).[13] Triết học được hiểu theo nghĩa này, chứ không phải là học triết theo nghĩa lập lại các loại triết thuyết như con vẹt, và mắt nhắm mắt mở đi theo triết gia nào đó, giống như người mù đi theo anh chột. Đi theo một triết lý, không nhìn ra toàn bộ liên quan giữa triết học và cuộc sống, không biết “gạn đục khơi trong”, người ta đã biến triết học thành giáo điều.

4. Tri Thức và Tri Thức Khoa Học?

4.1. Triết học tự bản chất là tri thức mang tính khoa học của con người, về con người con người. Mang tính khoa học vì triết học đòi hỏi một nền tri thức chính xác, đáng tin cậy, và hữu dụng. Tuy vậy, triết học không phải, và không bao giờ là một nền tri thức khoa học theo nghĩa hẹp (của khoa học tự nhiên). Trong khoa học tự nhiên, đặc biệt toán học, vật lý, hóa học, tri thức phi và luôn đúng ở mọi nơi, vào mọi thời. Nó mang tính phổ quát (universal), và bắt buộc (tất yếu, tất nhiên, necessary). Nhưng triết học là tri thức căn cơ của khoa học con người (human sciences), hay còn gọi là khoa học mang tính nhân văn (humanities), nó không đồng nhất với tri thức của khoa học tự nhiên. Con người không phải là vật thể cố định, nằm ngoài, tuân theo qui luật tuần hoàn bất di bất dịch. Trong khoa học con người, con người (chủ thể, subject) lấy chính con người làm đối thể, hay đối tượng (object), hay làm đồng chủ thể (inter-subject), lấy cuộc sống của mình làm đối tượng suy tư và nghiên cứu. Vì con người không phải là vật thể bất động, bất biến, vô ý thức như sự vật; vì cuộc sống luôn biến động; vì ý chí, tự do, ước vọng con người vô biên, nên khoa học con người phức tạp, khó đo lượng, và không ngừng biến đổi. Do đó khoa học con người là quá trình nhận thức (learning), kiến thức (acquired knowledge) và tri thức (knowing)[14] về con người sống động, tương tác, sáng to. Nói cách khác, khoa học nhân văn chỉ có thể cung ứng những tri thức đa dạng mang tính phổ thông (general) như “ý dân”, “lòng dân”, và theo một cách chung chung của (một) cộng đồng, dân tộc nào đó vào những thời đoạn khác nhau. Ý dân, lòng dân, ý thức chung, cảm giác chung (nói chung, một loại common sense) tuy rất quan trọng và cần thiết để hiểu con người, nhưng tầm quan trọng được hiểu theo nghĩa thiết yếu (contingent) chứ không phải là tất yếu (hay tất nhiên, necessary, tức là điều bắt buộc phải có, như thấy trong khoa học tự nhiên). Thiết yếu chỉ ra tầm quan trọng tùy theo hoàn cảnh, điều kiện, môi trường, tùy thuộc vào lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc. Lí do thiết yếu mà không tất yếu là vì tri thức con người luôn gắn chặt với cuộc sống, nối liền với thế giới sống, đóng khung trong thời gian và không gian sống (không thể tách rời khỏi cộng đồng như gia đình, xã hội…). Hiểu triết học theo nghĩa tri thức mang tính khoa học, tức một nền tri thức về con người có hai đặc tính phổ thông (chung chung, phổ biến trong một thời, một xã hội nào đó) và thiết yếu (cần thiết) như nói trên, chúng ta phải chấp nhận sự kiện là tri thức về người Việt, cuộc sống Việt, cách sống, nghệ thuật sống, v.v., vào mỗi thời đều có thể nói lên một loại triết học Việt ở vào thời điểm đó. Theo Hegel (Phänomenologie des Geistes, 1807), triết học luôn đi song hành với tinh thần thời đại (Zeitgeist) và tinh thần dân tộc (Volksgeist) để vươn tới tinh thần tuyệt đối (absolute Geist), chúng ta cũng có thể nói Việt triết nói lên tinh thần Việt (越) vào những thời đại (lịch sử) khác nhau trong quá trình thăng tiến hoàn thiện của dân Việt.

4.2. Khoa Học không phải là mớ giáo điều bất khả ngộ, mà là sự tiến bộ không ngừng của tri thức.

Tuy chủ đích bàn về triết học như một nền tảng của nền khoa học con người, nơi đây cũng cần nói thêm chút ít về khoa học. Khoa học (sciences) theo nghĩa gốc Hy la (ἐπιστήμη/episteme/scientia) là tri thức (knowledge/savoir) được xây dựng trên nhận thức (learning/connaissance) (Chú thích 14). Một tri thức luôn đúng ở mọi nơi, mọi thời (universal) được hiểu như là khoa học. Tương tự, một tri thức mang tính tất yếu (necessary) cũng là tri thức khoa học. Nhưng một loại tri thức phổ quát tất yếu như vậy chỉ đúng cho khoa học tự nhiên, đặc biệt toán học và vật lý, thí dụ công thức 1=1, hay phương thức F=M theo nguyên lý đồng nhất.

Vấn đề là, nếu khoa học chỉ là tập hợp những tri thức tuy luôn đúng và không thay đổi đã được biết, thì không thể có tri thức mới. Tạo ra tri thức mới,  phải vượt lên khỏi cái cũ. Đó mới chính là tinh thần khoa học đích thực. Hiểu như vậy, khoa học là quá trình không ngừng phát triển tạo ra tri thức mới (Luận điểm của Karl Popper, Conjectures and Refutations: The Growth of Scientific Knowledge, New York: Routledge, 1965). Theo Popper, tri thức mới chỉ có được nhờ vào nỗ lực tìm kiếm vấn nạn giải đáp (trial and error) mới hơn, hữu hiệu hơn, cập nhật hơn, thích hợp hơn.

Dựa theo quan điểm của Popper, tôi nghĩ, vì vấn nạn người Việt không hẳn giống hệt vấn nạn người Tầu hay người Tây, nên giải đáp cho vấn nạn Việt cũng chắc chắn là không giống Tầu mà cũng chẳng giống Tây. Từ đây, tôi hiểu cách thế mà chúng ta đi tìm vấn nạn của người Việt vàxã hội Việt, cũng như giải đáp mà chúng ta có được là những đóng góp tạo thành triết Việt. Nói chung, tư tưởng Việt là những tri thức liên quan tới người Việt và xã hội Việt, trong khi quá trình tạo ra tri thức, tìm ra qui luật sống, phương thế sống, cách thế suy tư… là đối tượng nghiên cứu của triếtViệt.

5. Trở Li Câu Hi Thế Nào là Triết Học theo nghĩa “Yêu Quí sự Khôn Ngoan” ?

5.1. Khôn Ngoan: Triết học theo nghĩa nói ở các phần trên gần gũi với quan niệm nguyên thủy của philo-sophia, đó là yêu quítìm kiếm trí tuệ thông mẫn (love of wisdom) và thực thi trong cuộc sống (practical sciences). Người Việt chúng ta có lẽ hiểu sophia (σοφία) theo nghĩa khôn ngoan (ngôn ngữ bình dân), hay minh triết (truyền thống “minh triết bảo thân”, và thường bỏ qua ý nghĩa của philo (φιλο). Nói chung, philo là yêu quý, yêu chuộng nhưng không chiếm hữu làm của riêng; tìm kiếm nhưng không phải vì mục đích chiếm đoạt. Tôi nghĩ, sophia có thể được hiểu theo nghĩa trí tuệ thông mẫn (sapientia, wisdom, sagesse, Weisheit, 智慧) và khôn ngoan (明智) hay minh triết (theo nghĩa phronesis/φρόνησῐς/practical wisdom), có thể áp dụng vào cuộc sống. Hiểu theo tinh thần Nho học, thông mẫn là nguyên lý (minh minh đức) (trong Đại Học), đòi hỏi phải biết tận tường sự vật (chí tri cách vật), nhận ra qui luật của sự thế (tri thiên), ý thức về chính mình (tri kỷ) và áp dụng sự hiểu biết trên vào cuộc sống (sách Trung Dung). Hiểu theo truyền thống từ thời Aristotle cho tới thời đại ngày nay, trí tuệ thông mẫn gắn liền với phương cách giải quyết vấn nạn của cuộc sống, với khả năng phát minh và kỹ năng sử dụng công cụ (Bacon), với năng lực phát triển chính xác hơn (Descartes) xa hơn, cao hơn, tốt hơn, đẹp hơn, sung sướng hơn (Mill, Bentham).

Dựa theo hai truyền thống Nho học và Aristotle trên, chúng ta có thể nói, những giải đáp hiệu quả mà người Việt đưa ra trong quá trình “gạn đục khơi trong” và được áp dụng vào cuộc sống cũng như được phát triển để tồn tại nói lên trí tuệ người Việt. Nói cách khác, những giải pháp trong quá khứ, đi tìm những giải pháp cho vấn nạn hiện tại, và khám phá đáp án cho những gì có thể xẩy ra cho dân Việt trong tương lai, tất cả đều nằm trong một quá trình hình thành sự hiểu biết về Việt, xây dựng và phát triển tri thức về Việt. Tôi thiết nghĩ, đó có lẽ chính là con đường Việt triết.

5.2. Nguyên Lý Đàng Sau Các Giải Đáp: Triết Học và Nguyên Lý

Xây dựng nguyên lý từ những giải đáp hiệu quả, giải pháp thực tiễn, kinh nghiệm… đồng nghĩa với tìm ra quy luật phát sinh vấn nạn và phương thế giải đáp. Đó là tìm ra cái lý (logic), mục đích, phương thế, phương tiện, phương pháp sống… Tất cả tạo thành cái mà chúng ta hiểu là cái đạo (trong các tôn giáo lớn) hay triết học theo nghĩa rộng. Một thí dụ hiển nhiên cho con đường đạo lý thấy nơi đức Phật, đức Khổng, đức Giê-su… Quí ngài đã tìm ra nguyên lý cuộc sống của vạn vật, và đã vạch ra con đường (đạo sống) để đạt tới viên mãn. Con đường giải thoát bao gồm ngộ đạo (tự giác, từ bỏ tham sân si, giải thoát…) và hành đạo (dấn thân, hi sinh tự ngã, bác ái…). Tương tự, những nhà đại khoa học, tư tưởng là những người góp công vào việc khám phá, tìm ra qui luật sống của trái đất (Newton), của cách sống lí tưởng (đạo đức của Khổng, của Kant), đảm bảo xã hội an bình (pháp luật của Montesquieu, chính trị của Rousseau), hay đơn giản, nhưng khó hơn, những người khôi phục và phat huy năng lực, ý thức của mỗi người (Socrates, Phật).

Hiểu triết học theo nghĩa tìm, xác minh, áp dụng nguyên lý sống, chúng ta có thể nói, cũng có những nhà tư tưởng Việt đi theo con đường này. Có thể là những đề nghị của họ chỉ là “cách tân”, “cải cách” chưa hẳn là “sáng tạo” (theo nghĩa “làm ra từ cái không” (ex nihilo), nhưng nếu ở trong một thời đoạn, một xã hội, bị ý thức hệ Nho khống trị, bị tâm thức “tùy thuộc” vào Phương Bắc như thờ Minh Mạng, Tự Đức, thì một Nguyễn Trường Tộ, một Nguyễn Lộ Trạch nên được trân trọng như là những nhà tư tưởng lớn. Và gần đây hơn, Trần Đức Thảo với tham vọng xây dựng một nền triết học Mác-xít khoa học bằng cách sử dụng phương pháp phân tích hiện tượng và qui giản bản chất (eidetic reduction); Kim Định với ý tưởng khôi phục nền Việt nho nguyên thủy như là nền tảng cho đất nước và dân tộc Việt đáng được chú ý. Tham vọng của Thảo, ý tưởng của Kim Định trên thực chất là utopia, hay là ảo tưởng hi vọng một thế giới không hiện hữu. Chúng ta không có lí do “bên trọng” Tây phương, “bên khinh” nước Việt[15] khi cả hai đều chủ trương “utopia” như là lí tưởng sống, nơi sống lí tưởng. Tôi muốn nói đến chủ trương “Utopia” của Plato (Republic), của Thomas More (Utopia, 1516), và dĩ nhiên của Karl Marx, mà Karl Mannheim coi như là cốt lõi của ý thức hệ, làm nền tảng cho xã hội học (Ideologie und Utopia, 1929).

Tm Kết: Triết Gia, Người Là Ai?

Vì mục đích bài này là một biện hộ cho sự hiện hữu của triết Việt, nên tôi tập trung vào luận chứng nhiều hơn, như thấy trong bài này. Đối với người Việt trọng tình cảm, thường gắn liền tư tưởng với cuộc sống cá nhân, những luận chứng trên khó có thể thuyết phục họ. Do đó, tôi xin được kết thúc bài viết này với một ý nghĩ thô thiển về triết gia, mà người Việt chúng ta thường hiểu một cách rất “cảm tính”. Họ thần thánh hóa, đồng nhất triết gia với mẫn tuệ, khôn ngoan, và nhất là quyền lực. Họ thường lấy những chuyện bên lề cuộc sống để đánh giá triết gia, mà quên đi triết học của ông/bà nào đó. Một lối nhìn có hại cho sự phát triển triết học. Chúng ta quên rằng không có mấy triết gia dám tự coi mình là thông tuệ, là cội nguồn khôn ngoan, là tuyệt đối. Triết gia được công nhận qua tầm ảnh hưởng tích cực của tư tưởng trên cuộc sống con người, dân tộc, xã hội… phải do vua quan hay đại chúng. Để độc giả hiểu lí do tại sao người Việt chúng ta hay hiểu sai triết học, tôi xin nêu ra vài nhận xét:

– Nhm ln Triết gia với Thánh nhân, hay Hiền nhân Quân tử. Triết gia không phải là thánh nhân, tuy rằng cũng có những thánh nhân là triết gia (như trường hợp Khổng Tử, Mạnh Tử, Augustine, Thomas Aquinas). Chỉ những bậc thánh nhân trong tôn giáo mới được tín đồ tôn vinh như là sự thật, sự sống. Thánh nhân dĩ nhiên có triết lý và triết lý của họ được thấy ngay trong cuộc sống của họ, ảnh hưởng sâu đậm trên tín đồ. Tuy vậy, triết lý của các ngài không theo con đường lí luận mà phát xuất từ chính cuộc sống hiện thực làm người, giúp người khác làm người.

– Nhm ln với Lãnh t, Danh nhân: Triết gia không phải là lãnh tụ, danh nhân. Đã có một thời, những lãnh tụ từ cổ chí kim được sùng bái như là những triết gia vĩ đại. Nhưng họ đâu phải là triết gia, càng không phải là thánh nhân. Hào quang triết gia, thánh nhân của họ phai nhạt, thậm chí tắt ngúm khi hết quyền lực. Thảm bại hơn, các “triết gia” loại này, một khi không còn quyền lực bảo vệ, biến thành đại tội phạm (như trường hợp Adolf Hitler, Benito Mussolini, Nicolas Ceaușescu, Pol Pot, Muhammad Qaddafi, Saddam Hussein). Họ có triết thuyết gì để lại cho đời ngoài tội ác chống lại nhân loại?

– Triết gia không phi là người “phát ngôn” ca phe phái, giáo phái, dân tc, hay đảng phái. Tôn vinh người của phe nhóm mình lên hàng triết gia, ngay cả khi không ai biết triết gia của họ có cái triết lý nào,[16] hoặc ngược lại, bôi nhọ, dèm pha, chối bỏ người không thuộc phe nhóm, dẫu những người này có đóng góp vào triết học, xem ra là cái tội “tổ tông” của chúng ta.

– Vậy thì, có thể nói, triết gia hay nhà triết học là bất cứ ai sống với triết học hay có một triết thuyết, triết lý nào đó.Nói ngắn gọn, triết gia là người làm triết học.[17] Người hiểu triết học hay khoa học không ai ngu ngơ làm bảng xếp hạng triết gia, ai nhất, ai nhì… kiểu tiến sỹ thời phong kiến với trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, đệ nhất, đệ nhị tiến sỹ… hay kiểu thi hoa hậu ngày nay! Lớn hay nhỏ tùy theo ảnh hưởng rng hay hp, nhiều hay ít, lâu dài hay ngn hn trên xã hội, dân tộc, trên lịch sử nhân loại nói chung và trên cộng đồng triết chuyên nghiệp (nói riêng). Cụ thể:

– Những ý tưởng đưa con người tới gần chân, thiện, mỹ… tạo giúp cuộc sống ý nghĩa hơn, hạnh phúc hơn, vững bền hơn. Đó chính là sự vĩ đại của những đại triết nhân như Socrates, Khổng Tử, Thích Ca, Giê-su. Ảnh hưởng của các ngài được thấy qua những đóng góp làm thế giới an bình, trật tự, hợp lý, đem lại ý nghĩa cho cuộc sống, thắp lên niềm hy vọng cho nhân loại cả hàng trăm, ngàn thế hệ (Karl Jaspers, Die grossen Philosophen, München: Piper, 1957).

– Những đóng góp việc làm xã hội tốt hơn, công bằng hơn, an bình hơn, đảm bảo hơn, v.v. Đóng góp của những Montesquieu, Rousseau, Locke, Hume, Kant trong việc việc xây dựng nguyên lý sống, ứng xử, lý tính, những phương pháp khoa học đã khiến xã hội con người tiến bộ và nhân văn hơn.

– Những đóng góp vào kỹ thuật suy tư, phân tích xã hội giúp con người suy tư “rõ ràng phân minh” (clara et distincta, Descartes). Đó cũng là đóng góp của triết học phân tích, triết học ngôn ngữ, triết học khoa học. Descartes, Bacon, Russell, Wittgenstein, Husserl, v.v., thuộc loại triết gia này.

– Và sau cùng, triết gia cũng là người luôn luôn khắc khoải, không bằng lòng với định kiến, không ngừng đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống. Họ nói lên tiếng nói tiềm thức; họ biểu tả được tâm linh, khát vọng của con người. Họ dám sống cho sự thật. Những người như Nietzsche, Kierkegaard, Heidegger, thậm chí Sartre được trân trọng theo lối nhìn này.

Theo nguyên lý trên, chúng ta nên đánh giá giới triết gia Việt, cụ thể theo công lao đóng góp của họ vào triết học (Việt), vào xã hội Việt, vào dân tộc, thế giới. Đóng góp bao gồm nói lên tâm trí, cách sống Việt, mở rộng tri thức, khai quật kho tàng tri thức Việt, tìm ra vấn nạn Việt, đưa ra giải đáp cho vấn nạn Việt, tìm ra phương pháp, kỹ thuật mới để hiểu biết người Việt, xã hội Việt tường tận, chính xác hơn. Đóng góp cũng bao gồm trợ giúp các ngành khoa học khác tìm tòi, cải tiến hiểu biết về con người, kỹ năng, năng lực sống và phát triển…. Đóng góp triết học thường bắt đầu với phản biện, tìm ra những sai trái thiếu sót của những người đi trước, của người Việt, xã hội Việt, tổ chức Việt, đạo đức Việt hin ti; thấy được lỗ hổng của lối suy tư, hệ thống, logic Việt. Nói tóm lại, đối tượng của triết học không chỉ hạn chế trong việc hiểu biết triết học quá khứ hay kỹ thuật suy tư mà thôi, mà quan trọng hơn, tìm ra vấn nạn và xây dựng nguyên lý, nguyên tắc, cách thế giải quyết vấn nạn Việt nói riêng, và con người nói chung.

Đào Nhiên Cư, 06.2025

Trấn Tân Bổ, Huyện Tân Trúc, Đài Loan


[1] Trần Trọng Kim, Nho Giáo, 2 Tập (1936), Tái bản (Sài Gòn: Minh Tân, 1957). Tập 2, tr. 372.

[2] Léopold Michel Cadière (1869–1955), tác giả bộ sách giá trị Croyances et Pratiques Religieuses des Vietnamiens, 3 Tập. (White Lotus Press, 1955).

[3] Léopold M. Cadière, Philosophie populaire annamite, Anthropos, Bd. 2-1. (1907), 116-127) Trích theo “Triết Học Việt Nam” trong: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BA%BFt_h%E1%BB%8Dc_Vi%E1%BB%87t_Nam)

[4] Kim Định là một trong số ít oi không đồng tình với Cadière. Ông viết: “Việt Nam đã có triết lý. Không những thế, nó có cả triết lý bình dân và nó đặc biệt ở chỗ nó không khác triết học bác học về nội dung mà chỉ khác về trình độ và ngôn ngữ. Đấy là nét đặc trưng… Bác học hay bình dân cũng thế cả chỉ khác nhau về sự trình bày để thích nghi với trình độ học thức mà thôi”. Kim Định, Triết Lý Cái Đình (Sài gòn, 1971). (Tp HCM: Nxb Hội Nhà Văn, 2017), tr.13.

[5] Giới Nho gia Tầu ít khi sử dụng từ Nho giáo. Họ phân biệt Nho học khỏi Nho giáo, Khổng học khác Khổng giáo. Ngược lại, người Việt lại thích dùng từ Nho giáo, đồng nhất với Nho học. Tôi đã bàn về sự khác biệt này trong: Trần Văn Đoàn, The Formation and Transformation of Vietnamese Confucianism (Washington DC: The Council for Research in Values and Philosophy, 2005); cũng như Trần Văn Đoàn, “Confucianism: Vietnam”, trong The Encyclopedia of Chinese Philosophy, ed. Antonio Cua (London: Routledge, 2003).

[6] Kim Định, Cửa Khổng (Sài gòn: Ra Khơi, 1961).

[7] Trần Văn Đoàn, Việt Triết Luận Tập, Thượng Tập (Los Angeles: Vietnam University Press, 2000). Chương “Tổng Quan về Triết Học”.

[8] Léopold M. Cadière, Philosophie populaire annamite “, đtd. Xin lập lại một đoạn trong chú thích số 3 ở trên: “Vì thế, khi nói là không có triết học, thì tôi có ý nói là không có một hệ thống triết học, không có những học thuyết có thể xếp thành một bộ môn, không có một triết học có lý sự, tóm tắt được những nỗ lực tìm tòi, suy tư, ngưỡng vọng, của tâm hồn người Việt.”(Gạch dưới câu chữ là do tôi)

[9] Tkh. Nguyễn Khắc Mai, “Minh Triết Trong Cái Nhìn Tương Quan Với Triết Lý và Triết học”. https://www.thonminhtriet.com/2014/09/minh-triet-trong-cai-nhin-tuong-quan.html. Ngoài ra: Francois Jullien, Minh Triết phương Đông và Triết Học phương Tây. (Nxb Đà Nẵng, 2001); cũng như Tô Duy Hợp, “Đi tìm định nghĩa khái niệm ‘Minh Triết’” (2010). https://bvthanh2001.wordpress.com/2010/10/08/gs-ts-to-duy-h%e1%bb%a3p-di-tim-d%e1%bb%8bnh-nghia-khai-ni%e1%bb%87m-minh-tri%e1%ba%bft/

[10] Thời Xuân Thu Chiến Quốc, triết học dưới tên đạo học đã thông dụng (Bách gia chư tử thời Đông Châu). Đạo học có cội nguồn thời Hoa Hạ (Kinh Dịch) được coi như cốt lõi của Nho thuật Đạo thuật (thời Xuân Thu), và trở thành chủ đạo thời Hán. Cuối thời Hán sang thời Đường, triết học là sự trộn lẫn giữa Nho và Phật, và từ thời Đường tới thời Tống và Nguyên được hiểu như là lí học. Triết học của ba phái Nho, Thích, Đạo hòa quyên với nhau trong dân gian anh hưởng tới lối hiểu bình dân và cách sống của người dân. Mãi đến cuối thế kỷ 19, do ảnh hưởng của nhóm Tân Nho học được từ Nhật, từ triết học mới chính thúc xuất hiện, mang nghĩa gần với triết học Tây phương.

[11] Xin độc giả lưu ý việc tôi cố ý phân biệt phổ quát (universal) với thông dụng (general) hay phổ biến, và tất yếu (necessary) với thiết yếu (contingent). Phổ quát và tất yếu là hai phạm trù chỉ đặc tính của khoa học chắc chắn (khoa học tự nhiên) như toán học, vật lý. Chúng dựa trên hai nguyên lý đồng nhất (principle of identity) và nguyên lý bất mâu thuẫn (principle of non-contradiction). Phổ thông (phổ biến) và thiết yếu là những đặc tính nói lên tính cách chung chung của cộng đồng thấy trong phong tục, tập quán, thói quen, truyền thống, cần thiết để hiểu và sống. Đây là phạm trù chung thấy nơi khoa học xã hội và nhân văn mà giới tư tưởng gọi là tinh thần dân tộc, thời đại (Hegel), cấu trúc nền tảng (Marx, Max Weber, Talcott Parson), cốt lõi (residues theo Alfredo Pareto)…

[12] “Common sense” (sensus communis, le bon sens, 常識), một quan niệm cốt lõi của Aristotle (như là cảm quan thứ 6, De Anima, Tập 3), mà Cicero hiểu là sensus communis, tức là giá trị và niềm tin chung của cộng đồng. Descartes (trong Discourse on Method, 1637) sử dụng khái niệm bon sens thông dụng trong Pháp ngữ nói về năng lực biết tính toán công việc thường nhật. Mãi đến thời John Locke, quan niệm “common sense” mới thật sự được chú ý. Shaftesbury, một học trò của Locke, trong tập sách Sensus Communis (1709), dùng lại từ sensus communis của Cicero, giải thích “common sense” của Locke như là cảm giác thiên bẩm về cái “public wealth” (lợi ích công) và “common interest” (ý thích chung). Tkh. Mục từ “common sense” trong Wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Common_sense

[13] Đây là lí do tại sao một nền triết học hoàn chỉnh (systematic/hệ thống) thường bao gồm siêu hình học (metaphysics, tìm hiểu nguyên nhân, mục đích, lí do), luận lý học (hay logic học: đi tìm lí lẽ, chứng minh luận chứng, sử dụng phương pháp, khám phá phương tiện, tạo ra công cụ), đạo đức học (morals, ứng dụng, áp dụng vào xã hội, chính trị, kinh tế, y sinh, môi trường, và các sinh hoạt khác của con người), tri thức luận (epistemology), mỹ học (aesthetics) , và những môn học liên quan. Để có một hệ thống hoàn chỉnh, triết học cần phải kinh qua rất nhiều thời gian, qua nhiều giai đoạn “gạn đục khơi trong”, đặc biệt luôn luôn phải được phê phán và cải tiến không ngừng (theo Karl Popper).

[14] Nhận thức (connaissance, learning) là sự hiểu biết có được nhờ vào kinh nghiệm sống, qua tương tác với người khác, hay “đụng chạm” với thế giới bên ngoài. Kiến thức (acquired knowledge) là sự hiểu biết (nhìn xa thấy rộng) có được qua học tập, quan sát trong khi tri thức (knowledge, savoir) là sự hiểu biết tường tận hơn, nguyên lý hơn… nhờ vào tư duy, phản biện cũng như nhờ vào phân tích, tổng hợp các nhận thức và kiến thức.

[15] Tôi sử dụng ý tưởng “Trọng Khinh” của Tô Duy Hợp, một nhà xã hội học và tư tưởng của Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Xtkh. Tô Duy Hợp, Khinh Trọng, Tập 1 (Hà Nội: Nxb Thế Giới, 2007); Tập 2 –2012; Tập 3 –2019).

[16] Trong mục “Triết học Việt Nam” trên Wikipedia (được sửa đổi nhiều lần), có những đánh giá khác nhau về triết gia Việt. Nhưng tựu trung ngoài Trần Đức Thảo, một số triết gia được vinh danh khác có lẽ vì chức vọng hay vì ý thức hệ (phe phái) hơn là vì triết học. Nó chỉ ra một truyền thống (thiếu chuyên nghiệp) nói chung. Những người thích bàn (một cách giáo điều) về triết học, thường thấy trong giới ngoài triết học. Rất ít người trong họ có được một sự hiểu biết tương đối về triết học. Sự kiện họ “công kênh” ai đó lên hàng “triết gia thiên tài”, hay không thương tiếc vùi dập cũng “thiên tài” đó vào đống bùn đen là chuyện “thường ngày ở huyện”, như trường hợp Phạm Công Thiện, Bùi Giáng. Thí dụ: Vũ Ngọc Anh, “Triết Gia Giả Cầy Đi Chưa Hết Đêm Hoang Liêu Trên Mặt Đất” https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=20763

[17] Tôi từng tham gia Ban Biên Tập tập Từ Đin Triết Hc và Tôn Giáo (của Viện Triết Học, được Viện Missionswissenschaft Institut, Aachen, Đức tài trợ, 2009-11). Khi bàn tới nên đưa nhà triết học nào vào trong từ điển, chúng tôi gặp rắc rối, ý kiến khác nhau. Vấn đề, ai là triết gia? Những nhân vật chính trị, danh nhân hay những người có tác phẩm triết học; những người hay được nhắc tới hay những người sống âm thầm? Tôi đã đưa ra khái niệm “người làm triết học” như là tiêu chuẩn cho bộ Từ điển. Làm triết học đương nhiên là những nhà giáo triết học, những người bàn về triết học, viết về triết học, áp dụng triết học vào tư duy, cuộc sống văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật… thậm chí chính trị, kinh tế, khoa học.