Press "Enter" to skip to content

JUERGEN HABERMAS (1929-2026) NHƯ TÔI BIẾT

JUERGEN HABERMAS (1929-2026) NHƯ TÔI BIẾT

Trần Văn Đoàn

1. Về Habermas

Không ai nghi ngờ Habermas là một triết gia tầm vóc lớn vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Ông được giới khoa học xã hội, nhân văn nhắc đến nhiều nhất, được coi như là một Kant mới của Đức. Ảnh hưởng của ông có lẽ chỉ sau Martin Heidegger, người được đánh giá (hay bị thổi phồng) là triết gia vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Trong thế giới học thuật, bất cứ lãnh vực nào, từ chủ thuyết Mác đến Tân Mác, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại, từ Thực dụng (Pragmatism), Thực chứng (positivism) đến Tân thực dụng (Neo-Pragmatism), Tân thực chứng (Neo-positivism), từ pháp luật đến đạo đức, từ tôn giáo đến thần học Ki tô giáo, từ triết học khoa học đến triết học ngôn ngữ, từ chính trị đến kinh tế, từ phân tâm học đến nghệ thuật… đều thấy cái “bóng ma Habermas” khi ẩn khi hiện. Ông “tranh cãi” với Popper, ông “tranh luận” với Jacques Derrida; ông “biện luận” với John Rawls, và ông “đối thoại” với cả Giáo hoàng Benedict XVI (Habermas, The Dialectics of Secularization (2007, w/ Joseph Ratzinger) ISBN 978-1586171667)

Sự “hiện diện” của ông thậm chí còn thấy ngay cả trong triết học chính trị Đông phương, đặc biệt Trung quốc (Thk. William Zhengdong Hu, Habermas Meets China: The Legacy of the Late Qing/Early Republican “Public Sphere” on the Modern Chinese Social Imaginary, trong Philosophy of the Social Sciences 2024, Vol. 54(4) 255–278).

Lí thuyết chính trị dựa trên lí trí của ông không chỉ được giới chuyên gia bàn luận, mà còn bị tranh cãi giữa các đảng phái chính trị Đức và Âu châu. Cuộc trao đổi giữa ông và John Rawls, tác giả của A Theory of Justice khiến giới luật học, chính trị đặc biệt theo dõi. Dĩ nhiên, quan niệm “chính nghĩa” (justice) không chỉ hiểu theo ý nghĩa chính đáng, mà còn chính trực, công chính (Habermas, Legitimation Crisis, 1975), công bằng (Habermas, Knowledge and Human Interests, 1968/1971) và nhất là hợp lý (rational values), một loại lý tính được cảm nhận, công nhận chấp nhận trong tự do và hiểu biết (Habermas, The Theory of Communicative Action, 1981-3/1984).

Có thể nói, Habermas thuộc nhóm triết gia có tầm ảnh hưởng đến chính trị thế giới. Hiếm khi thấy có một triết gia Đức nào khác được Quốc hội Đức (Bundestag) mời đến phát biểu trước toàn thể dân biểu nghị sĩ. Ông có vinh dự đó. Nhưng khác với Sartre, Russell, Marcuse những người dấn thân vào chính trị một cách “rất ồn ào”, Habermas đứng ngoài lề, nhưng không im lặng. Ông là người có ảnh hưởng đến phong trào sinh viên (nổi loạn) vào thập niên 1960s, nhưng ông không tham dự phong trào như Herbert Marcuse. Ông chống lại bất cứ luận điệu cực đoan nào của phái tả (như luận điệu của Rudi Dutschke, thủ lĩnh sinh viên) cũng như của phái hữu bảo thủ. Ông lên án hành vi khủng bố của “Biệt đội đỏ” (Roten Armee Fraktion, mô phỏng theo Vệ binh đỏ của Mao), một nhóm cực đoan tách ra khỏi phong trào sinh viên. Điều khiến không ít giới lãnh đạo sinh viên cực đoan bực tức, kết ông tội phản bội. 1

Nói chung, Habermas là một người nhà tư tưởng đặc biệt, một mình một cõi. Một người mà nhóm cấp tiến tâng lên như là nhà lãnh đạo mới. Nhưng rồi họ nhầm! Bởi lẽ, nhóm bảo thủ cũng tìm thấy nơi ông một đồng minh: ông đi từ truyền thống, từ gia tài văn hóa, tôn giáo còn để lại. Ông vẫn đào bới trong đó để tìm ra những giá trị giúp ông “tái cấu trúc” (reconstruct) cái thế-giới-sống (life-world). Ông đâu có vất tất cả mọi giá trị cũ vào thùng rác như giới hậu hiện đại đối xử với hiện đại (modernity) đâu. Như Kant, ông tuyệt đối tin vào LÍ TRÍ như là nguồn lực, động lực và sự biểu hiện của cuộc sống lí tưởng. Như Hegel, ông thâm tín rằng, tinh thần tuyệt đối – LÍ TRÍ – vẫn tiếp tục “mặc khải” trong thế giới đang sống và sẽ sống. Như Marx ông cũng mang một giấc mơ “thế giới đại đồng” không phải “cộng sản” (của cải chung), mà phải là thế giới chung xây trên cộng cảm và nền tảng lí trí. Cũng như các nhà thần học Ki tô giáo (Joseph Ratzinger, Jurgen Moltmann) hay “vô thần Ki tô giáo” (Ernst Bloch), Habermas nhìn ra, tinh thần tuyệt đối mặc vào mình cái hình hài của Thánh Linh (Holy Spirit), tức Tinh thần Chung được biểu tả qua hành động “cộng thông”, phát xuất từ cộng cảm (consensus), từ sự chân thật (qua ngôn ngữ), từ sự thông hiểu đích thực (Habermas, What is Universal Pragmatics, 1973), Tinh thần chung nền tảng cho tôn giáo nói chung, và đặc biệt Ki- tô giáo cũng là nền tảng cho văn hóa nhân loại (Habermas, Zwischen Naturalismus und Religion (2005) cũng như Habermas, The Dialectics of Secularization (2005). Tập sách sau là kết quả của cuộc đối thoại giữa Hồng y Josepth Ratzinger, sau là Giáo hoàng Benedict XVI, và Habermas vào năm 2004, Viện Hàn Lâm Công Giáo Bavaria tổ chức)

Tái cấu trúc là một quá trình biện chứng. Habermas mở rộng cái thế giới sống của mình bằng cách tiếp cận chân trời mới –quan niệm “hội nhập chân trời/fusion of horizons) của Hans-Georg Gadamer (Truth and Method, 1960) mà ông từng phê phán vào cuối thập niên 1960s– và qua việc cải tiến biện chứng pháp của Hegel, cũng như không sa đà vào biện chứng pháp duy vật của Marx. Trung thành với Hegel, biện chứng pháp của ông mở rộng và vươn lên, tiếp nhận, lọc lõi và thăng hoa thế giới với những kiến thức mới thỏa mãn cái ngã khai phóng (emancipatory interests) (Knowledge and Human Interests, Jeremy Shapiro dịch, 1972). Nhưng khác Hegel, Habermas không dễ dãi chấp nhận cái tinh thần tuyệt đối (absolute spirit) trong bất cứ hình thức, chế độ nào, văn hóa nào hay tôn giáo nào. Đây là lí do ông rời khỏi thế giới “Mác-Lê chính thống” (của Stalin, 1928), vốn trung thành với lối giải thích Marx qua lăng kính Lenin, tin rằng tinh thần tuyệt đối được đại diện bởi giai cấp tuyệt đối, tức là giai cấp vô sản. Ông cho rằng, quan niệm “chuyên chế vô sản” là phản lí tính, là tiền đề cho chuyên chế tuyệt đối (totalitarianism).

Với một kiến thức bách khoa, với bộ óc phân tích chi li, với lối đặt vấn đề và sáng tạo ý tưởng mới, có lẽ rất khó xếp ông vào trường phái triết học, hay trường phái xã hội nào. Habermas sử dụng những ý tưởng của Max Weber, Émile Durkheim, Talcott Parsons, George H. Mead (trong tập sách đồ sộ The Theory of Communicative Action, 2 Vols. Thomas McCarthy dịch, Boston: Beacon Press, 1984). Ông bàn về lí thuyết khoa học của Ernst Mach, phân tâm học của Sigmund Freud…. Ông cũng không quên Heidegger, Gadamer và nhất là Kant, Hegel. Và ông quen thuộc với triết học khoa học (tranh cãi với Karl Popper vào đầu thập niên 1960s / Xem The Positivist Dispute in German Sociology, 1983), triết học phân tích và cả giới triết học Mỹ, với nghiên cứu về Charles Sanders Peirce, William James, John Dewey, v.v.. Chưa nói đến, ông quá thành thạo giới triết học Pháp, đặc biệt Jacques Derrida, và phần nào đó Michel Foucault. Hình như ông gần như không bỏ qua trào lưu nào. Cuộc tiếp xúc với triết học Đông phương, tuy quá muộn, nhưng cũng đáng được lưu ý (Tkh. Old, J. and Ferrell, R. (2015) The Rectification of (Modern) Names: Jürgen Habermas Meets Confucius—Fixing Our Broken Political Discourse. Open Journal of Philosophy, 5, 104-116. doi:10.4236/ojpp.2015.51012).

Thành thử, những cái “nón cối” mà giới bình luận “ấn” trên đầu Habermas như “cấp tiến”, “bảo thủ”, “vô thần”, “hữu thần”, “phản hậu hiện đại” đều không hợp với cái “bộ óc quá lớn, quá rộng” mà Habermas thừa hưởng từ những nhà tư tưởng thời Ánh sáng (Enlightenement) như Jean-Jacques Rousseau, Charles Louis de Secondat Montesquieu, John Locke, David Hume, Adam Smith và đặc biệt Kant. Một bộ óc được hướng dẫn bởi ánh sáng của lí tính. (Xin tkh. Trần Văn Đoàn, Reason, Rationality, Reasonableness (Washington DC: The Council for Research in Values and Philosophy, 2000), Chương 4: Habermas on Consensus, ctr. 149 và tiếp theo).

2. Tiếp Cận Habermas

Tôi nghe đến tên Habermas lần đầu khi đương viết luận văn Thạc sỹ (về chủ thuyết hư vô của Nietzsche) tại Đh Laterano (Lateran University). Đầu tháng 11.1972, Giáo sư Luigi Bogliolo, người hướng dẫn luận văn, đề nghị tôi viết báo cáo về buổi thuyết trình của Giáo sư Georgio Giannini (Khoa trưởng Khoa Triết, Đh Laterano) nói về “Trường phái Frankfurt” với tựa đề rất kêu: “Trường phái Frankfurt và Cái kết của chủ nghĩa Mác” (Scuola di Francoforte e la fine di Marxismo). Bài thuyết trình (tại Khoa Triết Đh Sapienzia, Roma) hấp dẫn mọi người quan tâm, đặc biệt sau thảm kịch Thủ tướng Aldo Moro của Ý (thuộc đảng Dân chủ Ki tô giáo/Democrazia Cristiana) bị nhóm sinh viên cực tả quá khích sát hại một cách rất man rợ. Giới trí thức và cả quần chúng Ý đều muốn biết thêm về Mao (Trạch Đông), về Che (Ernesto Guevara), về hồng vệ binh của Mao, về Mùa Xuân Tiệp Khắc, và nhất là về “Roten Armee Fraktion”… đương lộng hành tại Ý, Đức…

Tôi từng theo lớp của Gs Giannini, chủ yếu đọc Phê Phán Lí Tính Thuần Túy của Kant (bản tiếng Ý), nên được vị giáo sư này kéo tôi đi theo trong tư cách là khách của diễn gỉa. Phe hữu (người ủng hộ đảng Democrazia Cristiana), cánh tả (đảng Cộng sản, đảng Xã hội) ai cũng muốn biết chủ thuyết Mác sống chết ra sao. Một đề tài nóng bỏng vào cuối thập niên 1960s, đầu thập niên 1970s, và làm cho giới triết học, chính trị và thần học nhớ lại bài viết của Benedetto Croce vào đầu thế kỷ 20 về “Cái gì còn sống và cái gì đã chết trong triết học Hegel” (Ciò che è vivo e ciò che è morto della filosofia di Hegel” 1907)). Gs Giannini, một trong số không nhiều triết gia Ý thông thạo tiếng Đức, và là một linh mục chuyên gia về Mác-xít ở Ý, nên ý kiến của ông được giới trí thức Ý để ý.

Bài báo cáo của tôi tựa đề “Cosa è la dialettica dell’illuminissimo” (Biện chứng Ánh sáng là gì?), mang tính giới thiệu, gồm 2 phần. Phần thứ nhất tóm tắt bài thuyết trình của Giannini chủ yếu giới thiệu nội dung tập sách Dialektik der Aufklaerung của Horkheimer và Adorno (1943). Tuy nhiên, tôi giải thích nghịch lí (paradox) “trong lí trí (ratio) đã có hạt nhân phi lí trí” (irratio) 2 theo lối nhìn của Nietzsche về hư vô trong tác phẩm Wille-zur-Macht: Hư vô như là quá trình lập lại từ “phá bỏ giá trị” (Entwertung) đến “chuyển hóa giá trị” (Umwertung). Phá bỏ là hư vô tiêu cực (negative nihilism) trong khi chuyển hóa là hư vô tích cực (positive nihilism). Nhưng Nietzsche không chấp nhận hệ thống duy lí của Kant, đừng nói đến nhóm triết gia duy tâm như Fichte, Schelling và Hegel. 3 Để giải đáp cái nghịch lí này (trong luận văn Tiến sỹ về Siêu hình học của Nietzsche tại Đh Innsbruck vào mùa Xuân, 1975), tôi chú ý đến Habermas. Trong bài thuyết trình, Gs Giannini coi Habermas như là người cuối cùng của trường phái này, bởi lẽ ông là người “phá bỏ” (thực ra là phê phán theo tinh thần Kant) lí thuyết phê phán (critical theory) của trường phái Frankfurt để tái cấu (reconstruct) chủ thuyết Mác. Từ đó, tôi bắt đầu đọc Habermas, với những tác phẩm Strukturwandel der Oeffenlichkeit (1962) Erkenntniss und Interesse (1968) và Legitimationkrisis 1975) mà tôi mua được với giá rẻ quãng 1 đến 2 Đức mã từ nhà xuất bản Suhrkamp.

Nhưng chỉ sau khi bắt đầu dạy học (1975), tôi mới đi sâu vào Habermas. Khi dậy môn “Ý thức và Tỉnh thức – Bi kịch của thế giới thứ 3” (cho nhóm sinh viên muốn làm việc tại Phi châu và Nam Mỹ) tại SOS Kinderdorf International Institute, Innsbruck (1975-1976), tôi phải đọc lại Hegel, Marx và những tài liệu và sách về chế độ thực dân, thuộc địa. Tôi cũng phải học thêm về kinh tế học, chính trị văn hóa và giáo dục. Và dĩ nhiên, phải tiếp cận những gì đã và đương xẩy ra ở Trung Quốc. Tôi ngấu nghiến (và chắc là không thể tiêu hóa) những Lenin, Mao,… rồi Paolo Freire, Ivan Illich và nhóm Tân Mác, trong đó có những Adam Schaft, Leslev Kolakowski, Lukács, Marcuse, Fromm, nhóm Yugoslavia và dĩ nhiên Trường phái Frankfurt với những tên tuối như Horkheimer, Adorno, Marcus, Fromm và Habermas cũng như phần nào Benjamin. Thời gian gần 5 năm tại Innsbruck và Salzburg, tôi đi sâu vào Das Kapital (Mar), Dialektik der Aufklaerung (Horkheimer và Adorno), tiếp cận Erkenntniss und Interesse (Habermas), The One-dimensional Man (Marcuse) và bộ sách The Main Currents of Marxism (Kolakowski) cũng như tác phẩm Geschichte und Klassenbewusstsein của Lukács.

Thời gian giữ ghế Giáo sư Triết học Đức tại Đại học Phụ Nhân (Fujen Catholic University, 1980-85), rồi ghế Triết học Chính Trị (National Taiwan University, NTU, 1985-1989), và sau cùng ghế Lịch sử Triết học Tây phương (NTU, 1989-2014), tôi có được đặc quyền, tự do mở lớp (mà không cần báo cáo cho Trường và Bộ Giáo dục) về những triết gia thời hiện đại, từ Kant qua Hegel tới Popper, và về những đề tài như Tự do, Công chính, Triết học Chính trị, v.v.. (Chú thích: cho tới năm 1988, Đài Loan vẫn còn trong tình trạng “thiết quân luật” (martial laws). Các lớp về chính trị, triết học phải báo cáo, được đại học thông qua, và nhất là có sự đồng ý của Cục An ninh quốc gia).

Để bắt mình và sinh viên phải đọc kỹ văn bản, mỗi lớp (2 credits) chỉ đi sâu vào một tác phẩm. Cứ như thế, tôi đọc đi đọc lại hầu hết những tác phẩm khó nhá nhất. Tôi yêu cầu sinh viên (viết luận văn với tôi) phải dịch bản gốc (tiếng Đức) có tham chiếu bản tiếng Anh sang tiếng Trung. Tôi không đặt nặng công bố, mà coi dịch sách như là một cách luyện tập tính kiên nhẫn, thói quen đọc cho kĩ. Dịch là phương pháp bồi dưỡng trình độ ngoại ngữ tốt nhất. Mỗi tuần, tôi dành cho mỗi sinh viên 60 phút. Họ phải đọc hết một chương sách, dịch và sửa lại bản dịch của trang trước.4

Trên 35 năm, hầu hết sách kinh điển như (3 Phê phán của Kant, Hiện tượng học Tinh thần của Hegel, Tư bản luận của Marx,Lý thuyết hành động câu thông của Habermas, Hữu sinh và Thời gian của Heidegger, Chân lý và phương pháp của Gadamer, Biện chứng Phủ định của Adorno, Lịch sử và Ý thức giai cấp của Lukács, Biện chứng Ánh sáng của Horkheimer và Adorno, v.v.) đều được đọc không sót một chữ, một dấu phảy, với những lối lí giải của các triết gia khác. Tôi theo phương châm của người Đức: “Chậm nhưng mà chắc” (Langsam aber sicher). Phải nói, lối học truyền thống cũ kỹ này đem lại kết quả khả quan. 5 Riêng về Habermas, tôi mở nhiều lớp tại Đh Phụ Nhân nghiên cứu các tập sách (tiếng Anh) như Knowledge and Human Interests, Legitimation Crisis, What is Universal Pragmatism (Ba tập sách này được sinh viên của tôi tại Phụ Nhân và Đh Quốc gia Đài Loan dịch sang tiếng Trung). Và đặc biệt The Theory of Communicative Action (2 Tập), tôi tập họp một nhóm giáo sư của Đh Chính Trị và nghiên cứu viên tại Hàn Lâm Viện Trung Quốc (Viện Nghiên cứu Trung ương, Academia Sinica) cùng đọc vào mùa hè 1986-1987. 6 Rồi đọc lần thứ hai với nhóm nghiên cứu sinh của tôi vào năm 2004-2005 tại Khoa Triết của NTU.

3. Chủ thuyết Mác-xít và Tân Mác tại Đài Loan.

Vào năm 1980, lúc tôi bắt đầu dậy tại Đài Loan, bầu khí triết học khá ảm đạm. Nói là triết học nhưng thực ra đó là môn “Chủ thuyết Tam dân”, một lí thuyết chính trị được Tôn Dân Tiên “tích hợp” từ Jefferson, Lincoln với Nho học và được Tưởng Giới Thách cải biến thành ý thức hệ dân tộc. Từ trung học tới đại học (năm 1, năm 2) đều bắt buộc phải theo lớp “Chủ thuyết Tam Dân”. Chỉ có triết học (gần đúng nghĩa triết) trong các Khoa Triết học, đặc biệt tại Đh Phụ Nhân và NTU. Khi đó, cả Đài Loan có 6 trường triết học, và chỉ có Đh Phụ Nhân và Đh Văn Hóa Trung Quốc có tới Tiến sỹ). Chính vì bị hiểu sai thành tư tưởng chính trị, nên triết học bị hạn chế tối đa. Chủ thuyết Cộng sản, xã hội bị cấm tiệt, vì là ý thức hệ của Đại luc (Trung Quốc). Nói trung thực về loại triết học này cũng dễ được đi tù chứ đừng nói đến tuyên truyền. Đã từng xảy ra vụ thanh trừng triết học vì chủ trương tự do học thuật. Năm 1975 hơn một nửa ban giảng viên Khoa Triết NTU bị đuổi, thậm chí có người phải ngồi tù. Họ bị cáo buộc lấy tư tưởng của Karl Popper và Friedrich Hayek để tuyên truyền xã hội mở, khai phóng. Gs Ứng Hải Quang (1919-1969), linh hồn của nhóm, trước đó đã bị mất chức và sống lây lất cho đến khi chết. Mãi đến thời kỳ Lý Đăng Huy (1988-2000), Gs Ứng mới được khôi phục danh dự. Hiện có Nhà Kỷ niệm Ứng Hải Quang trong khuôn viên NTU.

Sau 1980, Tưởng Kinh Quốc (1978-1988) thay đổi chính sách của ông bố, và từ đó dân Đài có nhiều tiếng nói và tự do hơn. Nói chung, bầu không khí dễ thở hơn. Tôi may mắn gặp đúng thời cuộc, đặc biệt tại Đh Phụ Nhân (nơi có nhiều giáo sư ngoại quốc, đa số là linh mục, dạy trong các trường khoa học và ngoại ngữ). Phụ Nhân từng có được một vị hiệu trưởng rất uy tín và quyền lực, Hồng Y Dư Bân (Cardinal Yupin), từng là cố vấn riêng cho hai ông bà Tưởng Giới Thạch, và là thành viên Chủ tọa đoàn của Quốc Dân Đại Hội. Lại nữa, tôi được Hiệu trưởng, Tổng Giám mục La Quang (Archbishop Lokuang), ưu ái vì thuộc số rất ít tốt nghiệp “tối ưu” (summa cum laude) từ chính đại học của ông, lại từng giúp dịch vài “papers” của ông sang tiếng Anh. Đại học giả bộ “nhắm mắt làm ngơ” khi tôi mở lớp về Tân Mác, thu hút các sinh viên có đầu óc cải cách. 7

Chỉ khi tôi về NTU, đại học số 1 của tất cả vùng nói tiếng Trung, lại là cái nôi của phản kháng và của dân chủ, tôi mới bị đấu tố công khai. Tôi bị cáo buộc “dùng chủ nghĩa cộng sản để phá hoại Nho học” vì dám phê phán Khổng học, 8 và nhất là mở những lớp về Marx, Habermas, Lukács, Marcuse, v.v. Dĩ nhiên những kẻ cáo buộc tôi đều không biết Habermas, Lukács, Marcuse… là ai, và họ cũng chưa bao giờ rờ đến Tư Bản Luận. Không chỉ bị cáo buộc mà còn bị làm khó dễ. Năm 1985, NTU được mở lớp Tiến sỹ Triết học, Tôi được mời và được bổ nhiệm vào chức giáo sư (full professor). Theo qui luật hàn lâm, hồ sơ, bằng cấp, tác phẩm công bố phải được duyệt xét ba cấp Khoa, Viện, Trường, và sau cùng là Bộ Giáo Dục. Tất cả thông qua nhanh chóng. Và “Hội đồng Giáo sư Nhà nước” (có phần giống Việt Nam) bỏ phiếu chấp thuận. Tuy thông qua, được hưởng lương, phụ cấp giáo sư, nhưng không có tờ Bổ Thư (Giấy Chứng nhận Giáo sư của Nhà Nước). Lí do, Phủ Tổng thống có ý kiến, và Bộ trưởng không dám ký. Phải đợi đến khi Tổng thống Tưởng Kinh Quốc bật đèn xanh cho chiều hướng dân chủ (1988), tôi mới nhận được giấy chứng nhận giáo sư chính thức. Lần này có chữ ký của Bộ trưởng Giáo dục và con dấu to tướng của Bộ. 9

Nhưng mãi đến đầu năm 1987, giới trí thức Đài mới động đậy liên lạc với Habermas. Cũng liên quan đến tôi. Từ năm 1984 tôi “được” Cục An Ninh nhà nước “ưu ái” chú ý. Năm 1986 tôi bị điều tra và theo dõi. Có người của An ninh và quân đội (một sĩ quan cấp tá) đến nghe lớp, ghi âm thường xuyên, đặc biệt lớp về Tư bản luận của Marx. Tôi bị công khai “đấu tố” trên các mặt nhật báo của Đảng cầm quyền như Trung Ương Nhật Báo, Dân Sinh Báo. Bị cáo buộc là những giáo sư đứng sau phong trào cải cách xã hội của sinh viên. Hai Viện nghiên cứu Chủ thuyết Tam Dân của Hàn Lâm Viện Trung Hoa (Trung Ương Nghiên Cứu Viện, Academia Sinica) và của NTU được lệnh tổ chức một hội thảo quốc tế về “Tà thuyết Tân Mác”, phê phán 3 nhân vật đại diện: Cao Thành Tiếp (?) (Khoa Xã hội học, Đh Đông Hải), Diệp Khải Chính (Khoa Xã hội học, NTU) và tôi (Trần Văn Đoàn (Khoa Triết học, NTU). Người đứng sau hội thảo là Phùng Hộ Hưởng, Viện trưởng Viện Khoa học Nhân văn của Đh Trung Ương, kiêm Thư ký của Tổng thống Tưởng Kinh Quốc, và là chuyên gia phê phán Mác-xít của Quốc Dân đảng. Người tổ chức là Trần Quang Hưng, một Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đh Brown (Mỹ), và có đầu óc cấp tiến. Biết được mưu mô của họ Phùng, Trần Quang Sinh mời cả 3 người bị đấu tố (Cao, Diệp, Trần V Đ) tham dự hội thảo và phát biểu luận văn, đồng thời mời Habermas làm Keynote speaker, và tôi là người đáp lời. Tôi có được địa chỉ của Habermas tại Starnberg là nhờ vậy. Dĩ nhiên, hội nghị bất thành. Làm sao có thể để một hội thảo mang tính “đấu tranh chống Tân Mác” thành một cơ hội quảng bá nó. Trần Quang Sinh suýt mất chức, bị làm khó dễ không được lên chức giáo sư sau nhiều năm. Về sau họ Trần phát điên. Phùng cũng mất quyền thế sau sự ra đi của Tưởng Kinh Quốc (1988). Tân Tổng thống Lý Đăng Huy, Tiến sỹ tại Cornell, Giáo sư kinh tế nông nghiệp tại NTU và nhất là người bản địa được Tưởng Kinh Quốc đặc tuyển, vốn rất thực dụng. Ông đẩy Phùng ra khỏi bán kính quyền lực. Phùng có quá nhiều ân oán nên khó thoát khỏi kiếp nạn. Đôi khi gặp lại ông, tôi vẫn cám ơn ông, vì nhờ bị tố cáo (oan) mà tôi thành “người nổi tiếng”. Thời Tổng thống Trần Thủy Biển, Phùng bị tố tội “tấn công tình dục” người giúp việc Phi luật tân, và bị kết án 3 năm tù. Oan, vì người giúp việc Phi luật tân trong một “affidavit” cho quan tòa ở Manila đã thú nhận động cơ trả thù vì bị đuổi việc. Tòa án Đài Bắc không chấp nhận “affidavit”, có lẽ vì cũng chính họ Phùng đã từng khiến Trần Thủy Biển (khi còn là nghị sỹ) bị kết án 3 năm tù, sau còn 10 tháng.

Trong tư cách Giáo sư ngồi vào “ghế” Triết học Tây phương tại Khoa Triết, tôi có nhiều cơ hội gặp và cộng tác với giới triết học quốc tế qua việc đồng tổ chức hội thảo, biên tập, chủ trì các dự án nghiên cứu (của Bộ Khoa học Đài Loan, Đh Vienna, Đh Chicago và The Center for Research in Values and Philosophy, USA).

Thời này, tôi giữ vai Tổng thư ký Hội International Society for Metaphysics (ISM), kiêm Tổng biên tập The Asian Journal of Philosophy (AJP). Đầu năm 1988, ISM quyết định tổ chức một hội thảo quốc tế tại Đài Bắc vào tháng 12, trước Lễ Giáng Sinh cùng năm. Tôi đươc sự cộng tác của Đh Phụ Nhân (Gs La Quang, Hiệu trưởng và Gs Lê Kiến Cầu, Khoa trưởng Khoa Triết) và Đh Chính trị (Gs Thẩm Thanh Tòng, Khoa trưởng Khoa Triết), và trợ cấp từ Bộ Giáo Dục và Bộ Văn Hóa Trung Hoa. Nên có thể “chơi sang”, mời những cây đa cây đề như Gadamer, Ricoeur, Habermas tham dự hội thảo, và nhận làm cố vấn cho Tập san AJP. Tôi liên lạc với Habermas (lúc này là Đồng Chủ tịch Viện Hàn Lâm Max Planck (Max-Placnk Institute) phụ trách phần Khoa học Xã hội Nhân Văn (tại Starnberg). Dĩ nhiên, Habermas không trực tiếp trả lời, mà chỉ có thư ký của ông trả lời, hẹn muốn trực tiếp gặp tôi tại Brighton, dịp Đại hội Triết học Thế giới lần 18, vào giữa tháng 8.1988. Ông muốn biết thêm về hội nghị ở Đài Bắc.

4. Brighton, 08.1988

Tôi gặp mặt Habermas lần đầu tiên vào ngày thứ 3 (23.08) của Đại hội, nhưng không phải tại Brighton mà tại Đh Sussex. Đại hội tổ chức một cuộc đối thoại giữa Habermas và Ricoeur vào sau trưa tại Đh Sussex, cách không xa Brighton. Ricoeur là chủ tịch danh dự của ISM, nên ban điều hành ISM chúng tôi (George F. McLean, Jean Ladrière, André Mercier, Errol Harris, Tomonobu Imamichi, P. Henrici và tôi) đều tham dự. Đề tài bài thuyết trình của Habermas là “Individuation through Socialization”, một tiếp nối của lí thuyết Communicative Action (1981). Ít người hiểu ông nói gì, một phần do phát âm tiếng Anh pha lẫn tiếng Đức, và cách diễn tả (rối rắm) của ông. Thính gỉa khó tính chú ý đến bài ông thì ít, mà chê bai việc ông thiếu “lịch sự” chiếm nhiều thì giờ hơn qui định, khiến diễn giả thứ hai, Gs Ricoeur, một triết gia nối tiếng của Pháp, không còn mấy thời gian cho mình.

Sau khi kết thúc, chúng tôi trở lại Brighton đề nghe bài nói chuyện của Karl Popper vào buổi chiều. Và cơ duyên vì đến chậm không còn chỗ khiến tôi đứng ngay cạnh Habermas tại cuối hội trường. Ông đứng nghe rất nghiêm túc. Đôi khi lắc đầu, xem ra không đồng ý lắm với Popper 10. Popper kết thúc bài phát biểu sau đúng một giờ. Không có đối thoại giữa diễn giả và thính giả, nên chúng tôi ra khỏi thính đường ngay. Tôi cảm nghiệm tác giả Open Society and Its Enemies (1951), trong vai trò diễn giả, giáo điều hơn là “khai phóng”. Và trao đổi với Habermas về lối nhìn của tôi. Ông cười rất tươi, vỗ vai tôi “Sie haben Recht” (Anh có lí). Nhân tiện thấy cơ hội, tôi nhắc về lời mời từ Đài Bắc. Ông hẹn tôi ở quán ăn bên trong Trung Tâm Hội Nghị cùng dùng bữa trưa ngày hôm sau (tôi nhớ ngày 24.08) và trao đổi them. Ông muốn rõ hơn về ISM và triết học tại Đài Loan.

Cần nói thêm. Habermas là ngôi sao đương lên, được coi là tiếng nói uy lực của chủ trương khai phóng. Liên Sô và các nước Đông Âu lúc bấy giờ đương đặc biệt chú ý ông. Những đại biểu như Frolov, Markovic, Petrovic, và nhất là từ Trung Quốc đều vồn vã “săn đón” ông. Tuy những ngôi sao khác như Popper, Ricoeur, Alfed Ayer… và nhóm triết gia học trò của Wittgenstein (như Anscombe, Dummett, Hintikka, Wang Hao tại Đh Cambridge và Oxford…) đều có mặt tại Đại hội, nhưng chính Habermas mới là thỏi nam châm. Không dễ gặp riêng Habermas. Có thể nói, tôi gặp số may.

5. Yếu Tố Trung Quốc

Tại bữa cơm trưa, tôi nhận ra Habermas không quá mặn mà. Cách đối xử của ông không ân cần thân thiện như Gadamer hay Ricoeur. Ông trả lời là ông sẽ thăm Đài Bắc nhưng với điều kiện (một điệp khúc quen thuộc của những ngôi sao). Ông nói, có thể đến vào một thời gian khác, không nhất thiết phải tham gia hội nghị gì cả. Ông chia sẻ, ông cũng được Bắc Kinh và Thượng Hải mời. Và cả Tokyo lẫn Seoul nữa. Ông muốn xếp một chuyến du hành Đông phương vào cùng một dịp, thăm Nhật, Đại Hàn và Trung Quốc. Đến Trung Quốc, ông sẽ nói chuyện tại Bắc Kinh, phát biểu tại Thượng Hải và ghé Đài Bắc nếu thuận tiện. (À há, tôi nghĩ thầm, ông này quá tốt bụng. Trong tư cách đi xe ôm, chúng tôi sẽ phải chi trả ít hơn).

Sắp xếp chuyến đi của Habermas xem ra giống như chuyến thăm viếng của một lãnh tụ cường quốc, hay chuyến “tông du” của một vị Giáo hoàng. Triết gia có lẽ cũng “khoái” như thế.

Mà thái độ “cầu thị” của giới triết học Nhật, Đại Hàn và sự đương mở cửa sau nhiều năm sau lũy tre Mao, đặc biệt sau cuộc “Cách mạng Văn hoa” khiến thế giới ai mà chẳng ham. Tôi nhìn ra cái mùi chính trị “nồng hắc” này, và không “dám” hứa sẽ mời ông tới Đài Bắc trong tương lai. À thì ra, Habermas vẫn còn gần Plato hơn là Kant.

6. Giới Triết học người Hoa

Nhưng Habermas chắc không rõ, giới triết học trong thế giới “Trung Hoa” không phải là một “tập đoàn” thống nhất. Họ đến từ 3 phía và mỗi người đều bị ảnh hưởng của các nền triết học khác nhau. Không có trường phái nào là chủ lưu, cho dù là Nho hay Mác, Mỹ hay Mao. Họ chỉ có chung cái gia tài truyền thống Nho học, niềm tin thực dụng và giấc mộng tự do của Lão Trương. Thành thử họ đều muốn “tái cấu Nho học”, “lí tính hóa Phật pháp” và mơ về tự do (thấy từ Mỹ). Họ sống tại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore (Trung Hoa). Họ sống tại Mỹ, Canada, và dĩ nhiên trong lục địa. Đại Hội 1988 cho họ cơ hội đầu tiên gặp mặt giữa ba “miền”. Giới triết học Đại Lục (Trung Quốc) lần đầu tiên trở lại tham dự Đại hội Triết học Thế giới sau mấy chục năm tự cách li trong ý thức hệ “Mao-ít”. Họ đến với phái đoàn trong tư thế quan chức hơn là triết nhân. Lãnh đạo bởi một vị Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản (Phó Chủ tịch Viện Hàn Lâm) và hai nhà lãnh đạo Triết học (Viện trưởng) của Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã hội Trung quốc, và Viện Hàn Lâm Thượng Hải, họ đến để tuyên bố: Thời điểm của Trung Quốc đã đến. Họ quan sát phái đoàn triết học Liên Sô (đăng cai xin tổ chức Đại hội 1993 sau tại Moskva), 11 và họ tìm cách gây ảnh hưởng trên FISP.

Đài loan (Trung Hoa) cũng tham dự như là Hội viên chính thức. Đây là lần đầu tiên đầu tiên hai bên bờ biển gặp nhau. Không có giáo tiếp mặn mà, nhưng cả hai bên đều tự hiểu, giữ đúng khuôn phép. Về học thuật Đài Loan có triết gia chuyên nghiệp, thông thạo nhiều ngoại ngữ, và có tiếng tăm cả ở Đài lẫn bên Trung Quốc, 12 nhưng về quyền lực thì chỉ là con tép riu. Trung Quốc có những triết gia nổi tiếng như Hạ Lân (賀麟người dịch Hegel sang tiếng Trung, dạy tại Đh Nhân Dân) nhưng họ ít xuất hiện.

Habermas nhận ra điều này và ông chọn Trung Quốc như là điểm khởi đầu, nơi có quyền lực và nhân tài. Điều hợp lí! Biết được tôi sẽ gặp Habermas tại bữa trưa, một số nhà triết học Trung quốc tại hải ngoại (vốn từng học tại các Đh Đài Loan) cũng muốn gặp ông. Tu Wei-ming (Đỗ Duy Minh, Harvard), Liu Shu Hsian (Lưu Thuật Tiên, The Chinese University of Hongkong), Cheng Chung Ing (Thành Trung Anh, University of Hawaii at Manoa) và cả Wang Hao (王浩Vương Hạo). Họ Vương là một giáo sư nổi tiếng về logic toán học tại Harvard, Oxford và Rockerfeller. Ông này thân Trung quốc, từng là học trò của Wittgenstein, và trợ lí cho O.W. Quine. Chúng tôi gặp Habermas tại quán ăn, ngồi cùng bàn, nhưng không mấy tương tác. Tôi để ý là sau màn bắt tay xã giao, Habermas không chú ý mấy tới họ. Ông nói rất ít (bằng tiếng Anh), và chỉ khi cần. Tôi nghĩ, có lẽ ông không thoải mái với tiếng Anh lắm, vì ông chọn dùng tiếng Đức trao đổi với tôi. Nhưng cũng có thể là mục tiêu của ông là Trung Quóc đại lục. Nhóm triết gia người Hoa tại Mỹ này xem ra thất vọng. Vương Hạo không vui. Có lẽ vì họ Vương vốn nổi tiếng trong thế giới triết học phân tích, lại là học trò của Wittgenstein, vốn không được Habermas mặn mà lắm. Riêng Lưu Thuật Tiên có nói về cảm nghĩ không mấy hứng thú của ông về Habermas khi Lưu cùng tôi tham dự Hội nghị Trí thức Thế giới tại Hán Thành (do Ủy ban Thế Vận Hội Hán Thành mời). 13

Mà không lấy gì làm lạ. Phái đoàn triết học từ Bắc Kinh do Gs Nhữ Tín (汝信), Phó Chủ tịch Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc dẫn đầu, cùng với Viện trưởng Viện Triết Học, Viện Hàn Lâm Viện Thượng Hải và nhiều nhà triết học của Đh Bắc Kinh, Đh Nhân Dân, v.v. Họ rất được Ban tổ chức Đại hội o bế. Đặc biệt Evandro Agassi, Tổng thư lý, sau là Chủ tịch FISP. Ông này muốn nối lại quan hệ giữa FISP với Trung Quốc và Liên Sô bằng mọi giá. Phái đoàn đến từ Đài loan gần như bị quên lãng. Sinh hoạt chính của Đài Loan chúng tôi là “ăn theo”, phát biểu trong khuôn khổ của các Hội viên (Philosophical Societies). Với ISM (Ricoeur, George McLean, Lewis Hahn và tôi tổ chức), Thaddeus Hang và tôi phát biểu). Với World Union of Catholic Societies of Philosophy, cùng với Ladrière và Florical của Đh Louvain, Van der Meer của Đh Leuven, Imamichi của Đh Tokyo, Henrici của Đh Gregoriana, McLean của CUA, Đài loan có Vincent Shen và Peter Woo phát biểu, còn tôi phụ trách phần bình luận.

Năm 1989 bi kịch Thiên An Môn xảy ra. Mọi cộng tác học thuật quốc tế gần như bị tê liệt. Tôi không nghe thấy phía Habermas có động tác gì. Có lẽ, ông quan sát. Về phía Trung Quốc, tất cả tạm ngưng, cho đến hơn 5 năm sau. Tới năm 1993 giới hàn lâm mới rục rịch động đậy, gửi một phái đoàn khá đông tham dự Đại hội Thế giới lần 19 tại Moskva. Nhưng không nóng bỏng như thời 1980s. Tôi đoán mò, Bắc Kinh và Thượng Hải không sớm thi muộn sẽ lại nhớ đến Habermas. Tháng 9 năm 1994, tôi được “Mã Khắc Tư Hiệp Hội” mời thuyết trình về đề tài “Tân Mác và Kitô giáo” tại Hội nghị của Hiệp hội tổ chức tại Đh Bắc Kinh. 14 Khoa trưởng Khoa Triết (Gs Diệp Lương) cho biết Đh Bắc Kinh muốn mở Khoa Tôn giáo học đặt trong Viện Triết Học. Việc mời tôi đến tham dự cuộc hội thảo về chủ nghĩa Mác này chỉ là một cái cớ để thảo luận hai việc, một là cố vấn cho việc thành lập Khoa Tôn giáo, và hai là mời tôi đến thỉnh giảng tại Khoa Triết (thời gian, đề tài do tôi định). Dịp này tôi trao đổi với một vị gíao sư “lão làng” , ông Trang Đại Niên, người thuộc thế hệ cùng với những Phùng Hữu Lan, Hồ Thích,”sống sót” từ Cách mạng Văn hóa. Tôi nhận ra sự sợ hãi và cẩn trọng của giới trí thức nạn nhân của Cách mạng Văn hóa: những điều họ phát biểu công khai không phải là ý của họ. Và tôi nhận ra ý của Habermas khi ông nhấn mạnh đến thành khẩn và trung thực phải là tiền đề cho một cuộc sống chung với nhau.

Cũng trong hội thảo này, có một vị Phó Giáo sư trẻ tuổi họ Cung (龔) của Đh Nhân Dân nói về Habermas và Trường phái Frankfurt. Bài của ông ta có lẽ là một trong những bài đầu tiên về Habermas tại Trung Quốc (ít nhất như ông ta nói cho tôi biết). Một vị nghiên cứu sinh khác tại Đh Thanh Hoa, Hoàng Trung Huy, nói về quan niệm “Open Society” của Popper. Hoàng sau đó gặp riêng, xin tôi giúp anh ta xem lại một chương trong luận án tiến sĩ của anh ta về quan niệm kinh tế chính trị của Marx; đồng thời mời tôi làm cố vấn cho “The Chinese Open Society” 15 mà nhóm của anh tại Đh Thanh Hoa đương thành lập. Anh nói, Open Society được sự ủng hộ của tỉ phú George Soros (ông này từng là học trò của Popper tại London School of Politics and Economics).

7. 1997 – Không Mời Lại Đến

Niên khóa 1996-97 tôi được nghỉ dạy, lại được giải thưởng của Bộ Khoa Học trợ cấp, có thể chuyên tâm viết sách. Tôi chọn Frankfurt vì có thể ở trong Học viện Sankt Georgen nằm ở Frankfurt am Mainz, nơi tôi có một số bài phát biểu tại Seminar của Gs Karl Otto Apel tại Đh Frankfurt vào cuối tháng 10 và đầu tháng 11. Lại nữa, tôi tham lam trót nhận thỉnh giảng tại nhiều đại học như Vienna, Bắc Kinh, Oxford và Catholic University of America, cũng như phát biểu tại nhiều hội thảo tại Nhật, Trung Quốc, Mã Lai, Thái Lan, PhiLuật Tân và Việt Nam… nên Frankfurt tiện nhất với những chuyến bay trực tiếp về Đài Bắc, đi Bắc Kinh, Osaka, Bangkok, Kuala Lumpur. Mà giá máy bay lại rẻ hơn Đài Bắc rất nhiều, nên tôi tiết kiệm được kha khá.

Vào tháng ba 1997, thư ký Khoa Triết của NTU gọi điện thoại thông tin là Habermas sẽ thăm Đài Loan vào tháng 5, và đề nghị tôi xếp đặt. Nhưng thời gian này tôi bận thỉnh giảng tại Đh Vienna (Wiener Universitaet), và sẽ đi Nagasaki tham dự một hội thảo (tôi là người đồng tổ chức), nên không thể về Đài Bắc tiếp ông. Tuy vậy, tôi nhờ Khoa xúc tiến kế hoạch mời ông. Liên lạc với Bộ Khoa Học, và Liên Hiệp Báo (tờ nhật báo lớn nhất Đài, với quãng 3 triệu độc giả vào thời đó), tôi được biết chuyến thăm của Habermas sẽ được Bộ Khoa Học trợ cấp (mức cao nhất dành cho những nhà khoa học đạt giải Nobel), và Liên Hiệp Báo sẽ ủng hộ một số tiền US. 5000 cộng thêm phí cho một Suite ở Khách sạn năm sao. Tôi đề nghi Khoa Triết xếp cho Habermas 4 bài thuyết trình, 2 bài tại Đh QG Đài Loan, một bài tại Đh Thanh Hoa, và một bài tại Hàn Lâm Viện Trung Hoa. Tôi cũng tìm ra được một giáo sư “tháp tùng Habermas” thời gian ông Đài Loan, đó là Gs Chin Ken Pa, chuyên về Habermas, và từng viết luận án Tiến sỹ do tôi hướng dẫn. Khoa chuẩn bị “hải báo” (tờ quảng cáo) và thông tin chuyến thăm của Habermas cho giới hàn lâm Đài. “So far, so gut”. Nhưng rồi, sự việc bất thành. Cuối tháng 4 khi tôi còn đương ở Nhật, thư ký Lai e-mail thông báo là Habermas không thể đến Đài Loan. Ông gặp vấn đề về tai ở Thượng Hải, phải trở lại Đức chữa trị. Một chuyến thăm bất thành. Tôi nhận đượcmột lá thư ngắn ngủi từ thư ký của Habermas, cáo lỗi.

8. 2003 – Thân Thiện

Cứ tưởng là sẽ không bao giờ có dịp gặp lại Habermas. Nhưng rồi bất ngờ. Ông xuất hiện tại Đại hội Triết học Thế giới lần 21 tại Istanbul. Lần này ông là nhân vật sáng giá nhất. Bài thuyết trình của ông được xếp ngày khai mạc và toàn hội trường chật ních. Chỉ có vấn đề, có bao nhiêu người hiểu được điều ông nói. Và điều này thấy ngay trong lời giới thiệu khách sáo của vị chủ tịch điều phối. Sau khi kết thúc, tôi đem theo một số nhà triết học trẻ -đa số là học trò lớp Thạc sỹ của tôi tại NTU, từng hoàn tất tiến sỹ ở Đức (Humboldt, Munich, Heidelberg) và Pháp (Paris)– gặp ông ngay tại hội trường. Lần này ông cười rất tươi và rất lịch sự trao đổi với chúng tôi, dĩ nhiên bằng tiếng Đức. Tôi nhắc lại chuyến đi Đài Bắc không thành của ông năm 1997, và sẵn sàng mời ông tới Đài Loan một lần nữa. Ông ngỏ lời xin lỗi, và cám ơn tình cảm nhiệt thành của chúng tôi dành cho ông.

Tôi nhắc lại lời mời, vì với vai trò Giáo sư Giảng tòa (rất ít ở Đài loan), tôi có đặc quyền mời giáo sư ngoại quốc đến giảng dạy hay hướng dẫn luận văn tiến sỹ trong phạm vi tôi giảng dạy, và luôn được NTU ủng hộ, cũng như được Bộ Khoa Học tài trợ. Đây là đặc quyền. Như trường hợp Habermas, chắc chắn là Bộ Khoa Học hay Bộ Giáo Dục sẽ sẵn sàng chi trả, chưa nói đến một số nhà xuất bản lớn hay hãng truyền hình (nào đó) cũng muốn chi tiền hỗ trợ. Họ thấy nơi ông một “lợi ích lớn” cho học thuật và cả thương mại. Tôi có nói, nếu ông đồng ý, tôi có thể mời ông đến làm một loạt bài thuyết trình tại những đại học hàng đầu của Đài Loan, và tổ chức một buổi đối thoại trực tiếp trên Đài Truyền Hinh “Dân Sự” (Tôi quen người phụ trách, vốn là cựu sinh viên của Đh Quốc gia Đài Loan. Ông này rất thích triết học). Habermas ngỏ lời cám ơn nhưng không hứa hẹn với câu nói ngoại giao “Ich hoffe so!” (Tôi hy vọng thế).

Cũng tại Istanbul, tôi được bầu vào Ban Giám đốc điều hành (Committee of Directors of FISP). Lần đầu tiên Đài Loan có đại biểu trong Ban Điều hành, và (quan trọng là) Trung Quốc không phản đối. Có lẽ vì giới triết học Trung Quốc biết đến tôi. Viện Hàn Lâm Trung Quốc và Viện Hàn Lâm Thượng Hải vốn thân thiết với tôi ngay sau Đại hội Brighton 1988, lại thêm nhiều đại học như Đh Bắc Kinh, Đh Phúc Đán, Đh Vũ Hán, Đh Trung Sơn, Đh Hoa Trung, Đh Nhân Dân đã từng mời tôi thỉnh giảng hay thuyết trình… nên không có lí do gì phản đối. Cùng với Tu Wei-ming (chuẩn bi rời Harvard để nhận chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cao cấp Khoa học Tinh thần tại Đh Bắc Kinh), chúng tôi muốn tổ chức một loạt đối thoại giữa Habermas và triết gia Trung quốc. Nhưng rồi cũng không được như ý.

9. 2013 Chia Tay

Tôi gặp lại Habermas lần cuối cùng vào tháng 8. 2013 tại Athens, Hi lạp, vào dịp Đại Hội Triết học Thế giới lần 23. Là Ủy viên Ban Điều hành của FISP tôi được xếp ở cùng khách sạn với Habermas, và “tận hưởng phục vụ” của khách sạn 5 sao. Habermas vẫn là ngôi sao và hình như chỉ tham dự Đại hội hai ngày. Tôi trông thấy ông hai lần tại bữa sáng, và chạm mặt ông hai lần đều trong thang máy. Lần thứ nhất, ông được tháp tùng bởi bà Phó chủ tịch FISP Noriko Hashimoto (một cộng sự lâu năm của Gs Imamichi, rất chu đáo và giỏi giang). Dĩ nhiên chúng tôi chào nhau. Vì tôi chào ông bằng tiếng Đức, ông có vẻ thích thú, cười rất tươi (điều ít thấy nơi ông) và hỏi tên tôi. Hiển nhiên ông không nhớ nổi tên quá nhiều người đã gặp, và tôi chẳng là cái đinh gì để ông nhớ đến. Bà Phó Chủ tịch FISP trả lời thay, nhắc lại là tôi làm việc ở Đài Bắc, từng mời ông đến Đài Loan, ông mới ề à, “Ach so!/ Vậy à!” và “Tôi đã quá già, xin lỗi!”. Khi đó ông đã 84 tuổi. Nhưng được như ông vẫn thật không dễ. Tôi chúc ông sức khỏe và hứa với ông là tôi sẽ đến nghe ông thuyết trình. Ông cười và cám ơn. Tôi thầm nghĩ, có lẽ chắc không còn dịp gặp lại Habermas.

Ông vắng mặt tại Đại hội lần 24 tại Bắc Kinh (2018) và Đại hội lần 25 tại Roma (2024). Tại Athens, tôi thông báo FISPkhông tái cử chức Ủy viên Ban Điều Hành FISP sau 10 năm. Lí do, tôi đã 65 tuổi và quyết định về hưu từ Đh Quốc Gia Đài Loan vào đầu năm 2014. Tôi muốn để dành thời gian còn lại chuyên tâm cho triết Việt và dần dà tiếp cận thế giới triết học ít hơn.

10. Kết Luận – Huyền Thoại và Cô Đơn

Trong đời, tôi đã từng gặp nhiều triết gia lớn. Từ Sartre đến Habermas, từ Heidegger đến Gadamer, từ Ricoeur đến Popper, từ Gadamer đến Foucault… Vô hình trung, tôi bị họ ảnh hưởng. Tôi từng bị cái bóng ma Nietzsche và Heidegger “đè” trên tâm trí khi còn trẻ. Nhưng những người định hướng giúp tôi tự đi con đường của mình là Gadamer và Habermas. Họ dựa vào lí trí nhưng không duy lí. Họ tư duy từ kinh nghiệm nhưng họ không theo duy nghiệm. Họ không vất bỏ thực dụng, thực chứng nhưng họ phê phán chủ trương duy thực dụng, duy thực chứng. Họ là những nhà khoa học nhưng cản báo cái nguy cơ coi khoa học như là một ý thức hệ. Họ phê phán nhưng cũng sử dụng những tinh hoa của giới triết gia khổng lồ như Plato, Aristotle, Thomas Aquinas, Descartes, Kant, Hegel, Marx. Và tôi nghiệm thấy, họ chịu khó lần mò trong quá khứ nhưng hướng về tương lai. Triết học không phải là những lí thuyết xuông, mà là một quá trình đi tìm những giải đáp cho vấn nạn của con người (những vấn nạn vốn có , đương có và sẽ xảy ra). Tôi bắt đầu nghiệm ra sứ mệnh của triết gia, không phải là biết và giải thích vấn nạn mà phải biết và giải quyết vấn nạn. Marx nhấn mạnh ý này (Theses ueber Feuerbach, These 11).

Habermas nằm trong thế giới những người khổng lồ (mà chúng ta tìm cách leo lên vai họ để nhìn ra thế giới). Giống và khác Marx, ông nhìn ra tính liên tục của lịch sử, nhưng đó là một liên tục không hồi kết. Bản chất của biện chứng không phải là phá bỏ, cắt đứt giai đoạn, giai cấp mà là sự liên tục thăng tiến. Ông tìm thấy nơi Hegel không phải một thế giới trừu tượng, mà là một thế giới cụ thể đầy vấn nạn nhưng luôn vươn lên. Đây có lẽ là lí do tại sao ông được coi như là người kết thúc Trường phái Frankfurt (với khuynh hướng tập trung vào giai đoạn “negative” của biện chứng như Adorno với tập Negative Dialectics, và Horkheimer với chương trình phê phán lí tính công cụ với tập Critique of Instrumental Reason, v.v.). Nhưng Habermas cũng là người phát huy trường phái này, bằng cách tập chung vào quá trình “Aufhebung” của biện chứng. Đây cũng là lí do tại sao ông tái cấu trúc thực dụng, tái cấu trúc hiện đại, tái cấu trúc tinh thần… Tái cấu trúc là một chuỗi giai đoạn dùng lí trí để giải quyết những nghịch lí của con người theo hướng “Aufhebung” mà Hegel thừa hưởng từ ý tưởng “transcendence” của nền thần học Ki-tô giáo.

Tái cấu trúc đòi hỏi hiểu biết gần như mọi vấn đề. Không mấy người đủ kiên nhẫn để theo ông. Ông trở thành một trong những thần tượng nổi tiếng nhất, khó hiểu và cô đơn nhất. Ông được hoan hô bởi một đám đông mà đại đa số không đủ kiên nhẫn nghe hay đọc sách của ông. nhưng không hẳn luôn được hoan nghênh nơi đồng nghiệp Đức. “Tiên tri không được chấp nhận bởi chính đồng hương” (Mác-Cô 6:4 ? Lu-Ca 4:16-30). Habermas rời Frankfurt, rồi lại rời Max Planck Institute, một phần vì đồng nghiệp. Rồi ông bị hất ra bên lề. Đh Munich (Ludwig Maximilian), đại học hàng đầu của Đức, từ chối không bổ nhiệm ông vào ghế giáo sư giảng tòa, và phải về hưu tại Frankfurt. Ông cũng không thành công thu hút đồ đệ kiên trì (như nhóm học trò của Wittgenstein hay Heidegger). 16 Một trường phái Habermas hiện vẫn chưa rõ mặc dù cái “bóng ma” (ngôn ngữ của Marx) của ông bao trùm mọi ngõ ngách.

Tại Việt Nam, Habermas tương đối xa lạ. Hai mươi chín năm trước (1997) khi trở lại Việt Nam lần đầu, tôi có nói qua về Habermas trong một số bài thuyết trình. Nhưng không ai (trong Viện Triết Học và hai Khoa Triết Học của hai Đh Quốc gia) lúc ấy biết ông là ai. Chỉ khi nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn gây được tiếng vang với những bản dịch (và chú thích) công phu về Kant và Hegel, và khi giới trí thức nhà biết được họ Bùi là học trò “rượu” của Habermas, thì người ta với bắt đầu chú ý tới ông thầy Habermas. “Danh sư xuất cao đồ” mà! Biết tiếng ông, nhưng đã có mấy người tiếp cận (chưa nói, đọc hết) tập sách The Theory of Communicative Action của ông? 17


Phụ Lục

Các Bài Viết tiếng Anh liên quan đến Habermas của Trần Văn Đoàn:

Tran Van Doan “Confucius and Habermas on Politics” Trong: The Proceedings of the International Conference on Confucianism and the Modern World. National Library, 1987

Tran Van Doan, “On Human Rationality – Habermas’ Theory of Consensus”. Trong Philosophical Review. No. 12 (1989). Ctr. 389-430.

Tran Van Doan, “The Confusion in Ethics and Values in Contemporary Society”. Trong: The World Academic Conference of the Seoul Olympiad 88 ed., The World Community in Post-Industrial Society, Vol. 3 (Seoul: Wooseok Publ., 1990), ctr. 216-228.

Tran Van Doan, “Habermas’ Theory of Consensus”. In Tran Van Doan, Reason, Rationality, Reasonableness. Washington DC: Center for Research in Values and Philosophy, 2000. Chap. 4, ctr. 149-182.

Tran Van Doan, “The Dialectic of Tradition and Modernity. Philosophical Review, No. 17 (1994), ctr. 129-163

Tran Van Doan, “An Anatomy of the Moral Crisis”. Filosofia. Vol. 30. Manila (2002)

  • Tran Van Doan, “Harmony as a Category of Ethics and Theology”. Trong Sino-Christian Studies, No. 7 (June 2009), ctr. 43-66.

Chú thích

  1. Độc giả có thể tham khảo Norbert Seitz, “Tưởng nhớ Jürgen Habermas: Một cuộc đời vì sự đối thoại”. Nguyễn Nhật Lệ dịch. Vanviet.info (10.04, 2026): https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/tuong-nho-jurgen-habermas-mot-cuoc-doi-vi-su-doi-thoai /Nguồn: Deutschlandfunkkultur, 14.03.2026: https://www.deutschlandfunkkultur.de/juergen-habermas-sozialphilosoph-nachruf-100.html ↩︎
  2. Đúng ra, đây là nhận xét của Horkheimer và Adorno về cái phi lí (irratio) trong bài “Elements of Anti-Semitism”: “Its “irrationalism” is deduced from the nature of the dominant ratio itself, and the world which correspondents to its image”. Dialectic of Enlightenment. Trans. John Cumming” (New York: Herder and Herder, 1972), xvii. ↩︎
  3. Tôi phát triển luận đề này sau gần 10 năm, công bố trong: Tran Van Doan, The Nihilistic Essence of Morality, Phần 1 trong Philosophical Study. Vol XV (June 1982), ctr. 130-167; Phần 2 trong Philosophical Study. Vol. XVI (Jan. 1983), ctr. 130-167; 173-216 ↩︎
  4. Một số sau khi thành Giảng viên đã công bố bản dịch dưới tên của họ như Hung Chui Er (Khải Mông Biện Chứng), Huang Hsiao hui (Hợp Pháp Tính Khủng Hoảng), Lâm Thụy Tiếp (Tri Thức dữ Ý Thích), v.v. ↩︎
  5. Hầu hết sinh viên Thạc sỹ do tôi hướng dẫn ở Đài Loan, sau này đều thành công hoàn tất tiến sỹ tại nhiều đại học danh tiếng như Oxford, Cambridge, London School of Politics and Economics, London, Harvard, Yale, Columbia, Munich, Heidelberg, Vienna, Berlin, Paris, Innsbruck, Đh Quốc gia Đài Loan , Đh Phụ Nhân, Đh Thanh Hoa (Bắc Kinh).Gần như tất cả sinh viên tiến sỹ tại NTU và Phụ Nhân của tôi đều trử thành giáo sư đại học tại nhiều nước. ↩︎
  6. Người tổ chức các buổi đọc sách là Gs Cố Trung Hoa, Tiến sỹ Xã hội học Đh Heidelberg, và là Giáo sư Xã hội học chuyên về Weber tại Đh Chính Trị (Đài Bắc). Tôi tham dự trong tư cách bình luận viên ↩︎
  7.  Năm 1983, tôi bị tố cáo ủng hộ một số sinh viên dám phê phán chủ thuyết Tam dân. Bị đưa ra hội đồng kỷ luật, nhưng Gs La Quang (Hiệu trưởng) bảo chứng nên không có vấn đề gì. Gs Lý Chấn Anh (sau kế nhiệm là Hiệu trưởng) trả lời Cục An Ninh về trường hợp vài giáo sư như tôi: “Đại học Phụ Nhân chúng tôi đâu có phải là trường của Đảng các ông mà phải xin phép các ông?” ↩︎
  8. Tôi bị nhóm Tân Nho (một số giáo sư giảng dậy bên Mỹ) và lí thuyết gia của Chủ thuyết Tam Dân, cũng như vài ba đồng nghiệp lớn tuổi trong Khoa Triết của NTU công kích trên một số nhật báo. Cục An Ninh có điều tra nhưng không tìm ra bằng chứng. Bị ảnh hưởng của Kant, tôi chưa bao giờ gia nhập đảng phái nào, trong suốt cuộc đời. ↩︎
  9. Đầu năm 1988 tôi tổ chức Hội thảo quốc tế về Siêu hình học tại Đài Bắc, nên phải đi xin tiền tổ chức. Gặp Bộ trưởng Giáo dục Chu Huệ Thâm, ông thố lộ “tin nội bộ” lí do ông không dám ký. Có lẽ vì “mặc cảm” trí thức, nên ông cấp cho Hội nghị 20.000 US. Một số tiền khá lớn, cộng thêm buổi Bộ Giáo dục chiêu đãi Hội nghị. ↩︎
  10.  Popper và Habermas từng tranh luận về chủ thuyết Thực chứng trong xã hội học (1961-1968). Trong phần trả lời bình luận của Adorno và Habermas về những luận đề của ông về khoa học xã hội, Popper “mạt sát” Habermas, đại khái như “Như tôi thấy, hầu hết những gì mà Habemas nói đều vụn vặt vớ vẩn, phần còn lại sai bét” (‘Most of what he says seems to me to be trivial; the rest seems to me mistaken). Tkh. Theodor Adorno và nhiều tác giả, The Positivist Dispute in German Sociology, Harper Torch Books, 1976). Bản 1970, tr. 297. ↩︎
  11. Liên Sô rã đám năm 1989/90. Tuy vậy Đại hội vẫn tổ chức tại Moskva tại Trung Tâm Hội Nghi của Trường Đảng Cộng Sản Liên Sô, dưới thời Tổng thống Nga Boris Yelsin. Cả Gorbachow và Yelsin đều trước sau đến dự Hội nghị. ↩︎
  12. Phái đoàn Đài Loan bao gồm: Gs Peter Woo (nguyên Khoa trưởng Khoa Triết, Đh QG Đài Loan, Tiến sỹ Đh Munich), Gs Thaddeus Hang (nguyên Khoa trưởng Khoa Triết, Đh Chính Trị; Tiến sỹ Đh Sacre Cuore, Milan, từng dạy tại Đh Frankfurt, Gs Vincent Shen (Thẩm Thanh Tòng, Khoa trưởng Khoa Triết, Đh Chính Trị, từng dạy tại Đh Leiden; Tiến sỹ, Đh Louvain (Leuven), và Trần Văn Đoàn. ↩︎
  13. Thế Vận Hội Hán Thành 1988 là một thế vận hội duy nhất có tổ chức Hội nghị Trí thức thế giới, mời quãng hơn 150 nhà trí thức đại diện cho nhiều nước. Gs Lưu Thuật Tiên đại diện cho Hồng Kông, tôi đại diện cho Đài Loan. Tại đây tôi phát biểu luận đề “Khủng hoảng Giá trị”. Bài này bị ảnh hưởng sâu đậm của tập sách Legitimation Crisis của Habermas. Xin xem: Tran Van Doan, “The Confusion in Ethics and Values in Contemporary Society”. Trong The World Academic Conference of the Seoul Olympiad 88 ed., The World Community in Post-Industrial Society, Vol. 3 (Seoul: Wooseok Publ., 1990), ctr. 216-228. ↩︎
  14. Tran Van Doan, “The Marxist Critique of Christianity”. Trong Philosophical Review. Nr. 18 (Jan. 1995). Ctr. 61-92. ↩︎
  15. Hoàng Trung Huy xong Tiến sỹ tại Đh Thanh Hoa (1997), giữ chức chủ tịch The Chinese Open Society. Anh giới thiệu tôi cho Gs Wu Dung (Ngô Động), từng là Phó Viện trưởng Kinh tế Chính trị (Đh Thanh Hoa) phụ tá nguyên Thủ tướng Chu Dung Cơ, mở rộng đường lối khai phóng kinh tế của Trung Quốc (thời Giang Trạch Dân). Quãng 2005, Hoàng giúp tôi (và Viện Triết Học, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội) kinh phí để tổ chức Hội thảo quốc tế, mời Ban Điều Hành (Committee of Directors) của FISP, với trên 30 triết gia trên thế giới) cũng như Viện Kinh Tế Chính Trị của Thanh Hoa tham dự.  ↩︎
  16. Giáo sư Hà Bội Doanh (He Pei-ying) của Đh Khoa học Đài loan từng theo lớp Thạc sỹ tại Đh Phụ Nhân với tôi. Sau đó làm Tiến sĩ tại Đh Vienna (Áo). Gs Hertha Nagel, người hướng dẫn Hà, gợi ý Hà đến nghe Habermas. Hà kể cho tôi nghe, Cô ta lấy xe lửa (gần 10 giờ) từ Vienna đến Frankfurt, Hà đến đại thính đường sớm 30 phút để giữ chỗ, nghĩ rằng sẽ không còn chỗ nếu đến đúng giờ. Gần tới sát giờ lớp, chỉ thấy lèo tèo vài người, trong đó hơn một nửa là những bộ mặt Á châu như cô. Hà nghĩ, có thể cô đến sai địa chỉ, nên hỏi một anh Đại hàn, “Có đúng là lớp của Gs Habermas?” Anh này trả lời “Đúng đó”. Đúng giờ, Habermas bước vào… và bắt đàu giảng…Người nghe chưa tới một chục người, trong đó có cả trợ tá của ông. Bà Hà ngạc nhiên và hoài nghi về ảnh hưởng của Habermas. ↩︎
  17. Dịch The Theory of Communicative Action (bản tiếng Anh của Th. McCarthy) sang tiếng Việt là Lý thuyết của Hành động Tương thông chưa nói hết được ý nghĩa của từ communication. Người Tầu dịch là “giao thông”, hay “câu thông” hay “tương thông”. Mỗi từ chỉ ra được một khía cạnh của communication. Để hiều, phải trở lại cái gốc là commun (communis) theo nghĩa, “bản thể” và “bản tính” của xã hội nói lên cái gốc mang tính chung (phổ quát), tác động tạo ra cảm giác chung, trên ý thức tại ra ý thức chung, trên sự việc thành sự việc chung. Đó là ý nghĩa của sensus communis hay common sense (Gadamer, Truth and Method). Bị ảnh hưởng của Gadamer, Habermas xây dựng những phạm trù như ngôn ngữ chung, sự chân thật, rõ nghĩa… là những điều kiện để sống chung (communicative action). Do đó “consensus” phải hiểu như là điều kiện cần thiết cho cuộc sống chung. ↩︎