Press "Enter" to skip to content

NHÀ NƯỚC THẾ TỤC

Giới thiệu sách

NHÀ NƯỚC THẾ TỤC

Tác giả: Đỗ Quang Hưng (Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, 647 tr.)

Người giới thiệu: Nguyễn Quang Hưng

Trong giới tôn giáo học và sử học Việt Nam, Giáo sư Đỗ Quang Hưng là người quen thuộc, tác giả của hàng chục đầu sách, hàng trăm bài báo về các lĩnh vực sử học cận hiện đại Việt Nam, tôn giáo học, văn hóa học và nhiều lĩnh vực khác. Nếu như ngành tôn giáo học ở Việt Nam đã được khởi đầu từ thời thuộc địa với tên tuổi như L. Cadière, thì những người như GS. Đặng Nghiêm Vạn, GS. Nguyễn Duy Hinh, GS. Đỗ Quang Hưng, PGS. Nguyễn Hồng Dương,… thuộc thế hệ thứ hai, đưa ngành tôn giáo học phát triển trong điều kiện đất nước thống nhất và từ sau Đổi mới, tạo đà để ngành tôn giáo học từng bước hội nhập quốc tế. Bài viết này tập trung vào việc giới thiệu Nhà nước thế tục của Giáo sư.

Trước hết phải nói rằng Giáo sư Đỗ Quang Hưng là người đã nhiều năm theo đuổi nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo, với các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam. Công trình Nhà nước thế tục mới đây gồm 6 chương với thời lượng tương đối đồng đều, có thể coi là sự tổng kết những nghiên cứu nhiều năm của Giáo sư về mảng đề tài này.

Chương I “Về một xã hội thế tục” bắt đầu bằng việc phân tích tính hiện đại và sự ra đời một xã hội thế tục. Chương này đề cập tới hai khái niệm cơ bản là tính hiện đại/ xã hội hiện đại và tính thế tục/xã hội thế tục. Đề cập tới khái niệm về tính hiện đại mà tới nay vẫn gây nhiều tranh cãi, liệt kê hàng chục định nghĩa, quan niệm khác nhau của giới nghiên cứu nước ngoài về khái niệm này, trong đó nhấn mạnh quan điểm của M. Weber coi tính hiện đại là sự giải ma thuật của thế giới/sự tỉnh mộng của thế giới (Entzauberung der Welt), theo đó tính hiện đại được thể hiện qua việc duy lý hóa đời sống xã hội thay thế cho các quan điểm thần học, tôn giáo giờ đây bị liệt vào hàng phi lý tính, lùi về lĩnh vực riêng tư. Điều này là cơ sở cho sự hình thành xã hội thế tục.

Chương II “Chủ nghĩa thế tục và nhà nước thế tục” làm rõ những điểm khác nhau giữa tính thế tục và chủ nghĩa thế tục, quyền lực của cái thiêng và quyền lực thế tục, mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị, bản chất của nhà nước thế tục,… Tác giả nhấn mạnh “chủ nghĩa thế tục không phải là chủ nghĩa vô thần: Chủ nghĩa vô thần là đức tin rằng không có Chúa hay các thần. Còn chủ nghĩa thế tục là những người chỉ cần công nhận quan điểm tôn giáo phải chia tách khỏi nhà nước” (tr. 116), mổ xẻ các hình thức khác nhau của chủ nghĩa thế tục. Tác giả liệt kê chủ nghĩa thế tục cứng, tức hoàn toàn tách biệt nhà nước với tôn giáo, xếp tôn giáo vào quyền riêng tư như trường hợp của Pháp. Trái lại với mô hình của Pháp, các mô hình nhà nước thế tục của Mỹ, Anh và nhiều nước khác mềm hơn. “Hiến pháp của các nhà nước thế tục dường như chứa đựng những thành phần sau: Một sự chia tách giữa giáo hội và nhà nước; Nhà nước không ban hành luật trên cơ sở của bất kỳ tôn giáo nào; Nhà nước không công nhận, hỗ trợ tài chính hay bao cấp bất kỳ tôn giáo nào; Tự do về tôn giáo; Tự do thực hiện thực hành tôn giáo trong khuôn khổ bảo đảm lợi ích của trật tự xã hội; Nguyên tắc về khoan dung tôn giáo; Cấm kỳ thị chống lại bất kỳ công dân nào trên cơ sở tôn giáo; Tự do lương tâm” (tr. 119-120).

Chương III “Các mô hình nhà nước thế tục” đưa ra các tiêu chí phân loại các mô hình nhà nước thế tục, phân tích nhà nước thế tục Pháp và nhà nước thế tục Mỹ như đại diện cho hai mô hình thế tục tiêu biểu cho hai cách phân ly nhà nước và tôn giáo cứng và mềm, hệ quả lịch sử của vấn đề tôn giáo trong cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ. Lý do tại sao Mỹ lại khác với Pháp lựa chọn cách phân ly mềm, theo tác giả, “Việc lựa chọn cụ thể một trong hai khuynh hướng chính nguyên tắc phân ly cứng hoặc phân ly mềm, có lẽ trước hết tùy thuộc vào mối quan hệ trực tiếp giữa nhà nước và giáo hội… đối tượng điều chỉnh của các chính sách tôn giáo của nhà nước, đó là người có tôn giáo và cả người không có tôn giáo, vô thần hoặc bất khả tri… Nhìn chung, khi nhận định về những đặc tính mô hình nhà nước thế tục của Mỹ, trước hết cần lưu ý, kinh nghiệm lịch sử của Mỹ, “một dân tộc tôn giáo”.” (tr. 248-251). Một số kinh nghiệm từ nhà nước thế tục ở Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, thế giới Hồi giáo và nhà nước thế tục cũng được phân tích ở đây để người đọc có thêm nhận thức đầy đủ hơn về các kiểu nhà nước thế tục hiện nay trên thế giới.

Chương IV “Nhà nước thế tục và tôn giáo” phân tích quan hệ giữa nhà nước thế tục với các tôn giáo cụ thể như Công giáo, Islam. Về trường hợp nhà nước Vatican, tác giả phân tích những luận điểm của nhà nghiên cứu Y. Rouxel “Giáo hội tuyên bố đứng trên một bình diện tư tưởng nhưng không đồng nhất với bình diện của các quốc gia, bởi vì mang tính chất phổ quát, giáo hội không bị giới hạn bởi ranh giới lãnh thổ của một quốc gia nhất định… Chủ quyền của giáo hội thuộc lĩnh vực tinh thần, uy quyền của giáo hội mang tính tinh thần và tôn giáo bao trùm trên hàng trăm triệu người… sức mạnh của giáo hội … là ở chỗ lời nói, giáo huấn, chỉ thị của giáo hội được tôn trọng trong lương tâm của thế giới Công giáo” (tr. 349). Tác giả chỉ ra những đặc thù trong quan hệ giữa nhà nước thế tục và Islam với nhận định các nước Islam ở Bắc Phi và Trung Đông như một sự thử nghiệm những mô hình nhà nước “thế tục chập chững”.

Chương V “Tính thế tục và nhà nước” mở đầu với việc khẳng định tính thế tục là một giá trị. Bàn về mối quan hệ giữa chủ nghĩa thế tục và tính tôn giáo, tác giả nhấn mạnh “Trong một xã hội bị chia rẽ nhiều hơn về tôn giáo, chủ nghĩa thế tục càng cần hơn vì càng nhiều khác biệt hơn giữa con người, thì nguy cơ một nhóm có thể định chi phối và áp đặt các giá trị và các hành xử lên các nhóm khác càng lớn. Điểm này chứng minh rằng các tôn giáo trên khắp thế giới đã từng là những “kiến trúc sư” của hàng thế kỷ bất hòa và đổ máu… Chủ nghĩa thế tục cung cấp một công cụ để học cách sống cùng nhau là một giải pháp thực tế cho xung đột tôn giáo bằng việc bảo đảm rằng nhà nước thế tục không ủng hộ bất kỳ tôn giáo nào hay đứng về bên nào; một nhà nước thế tục có thể bảo đảm quyền của mọi người để được tự do lựa chọn điều để tin hay không tin, trong khuôn khổ pháp luật” (tr. 456-457).

Cuối cùng, chương VI “Từ chủ nghĩa thế tục đến tính thế tục: mô hình nhà nước thế tục ở Việt Nam”, có thời lượng và khối lượng nội dung nhỉnh hơn các chương trước. Chương này khảo cứu lịch sử hình thành nhà nước thế tục ở Việt Nam, mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội các giai đoạn tiền thuộc địa, thuộc địa và hậu thuộc địa, mô hình quan hệ nhà nước và giáo hội giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam trong một sự so sánh, đối chiếu cho thấy Việt Nam cũng đã trải qua mấy mô hình quan hệ giữa nhà nước thế tục và tôn giáo. “Có thể khẳng định rằng, ở một mức độ nào đó, dưới chế độ phong kiến ở Việt Nam, một “truyền thống thế tục” nào đó cũng đã xuất hiện. Mô hình tổng thể là quyền lực phong kiến đứng trên tôn giáo, do những điều kiện của lịch sử, nhất là cấu trúc của hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng lúc đó, các tổ chức tôn giáo cũng vẫn có vị trí của mình trong sự “hài hòa và hợp tác” với nhà nước, đặc biệt các tôn giáo có chỗ đứng chân vững chắc trong đời sống xã hội và văn hóa dân tộc” (tr. 506).

Nhận định về quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo thời thuộc địa, công trình nhấn mạnh: “Thời Pháp thuộc, một mặt, người Pháp đã cố gắng vận dụng nguyên tắc phân lập tôn giáo-chính trị và tự do tôn giáo theo những nguyên lý của chủ nghĩa thế tục đang thắng thế ở chính quốc. Nhưng mặt khác, chế độ thuộc địa lại tự mâu thuẫn với mình khi ứng xử với các tôn giáo cụ thể cũng như đối phó với tình hình chính trị-xã hội ngày càng bất lợi cho nền thuộc địa bởi phong trào yêu nước và cách mạng” (tr. 513).

Mô hình quan hệ giữa nhà nước thế tục và tôn giáo thể hiện trong giáo dục của chính quyền Sài gòn cũng gợi cho chúng ta cần tham khảo để có thể phát huy vai trò của tôn giáo trong giáo dục Việt Nam hiện nay. “Chính quyền Sài gòn ngay từ những văn bản luật pháp đầu tiên đều khẳng định đặc trưng nhà nước thế tục trong giáo dục. Nguyên tắc cơ bản nhất mà họ áp dụng là tách biệt giáo dục công lập khỏi quyền lực của tôn giáo. Nói cách khác, giáo dục công lập chịu sự chi phối của luật dân sự cũng như luật giáo dục của nhà nước. Tuy vậy, cũng giống như thực tiễn giáo dục ở các nhà nước thế tục Âu-Mỹ, dần dần chế độ Sài gòn cũng nới rộng quyền lực pháp lý để các tổ chức tôn giáo cũng như các cá nhân, tổ chức xã hội nghề nghiệp khác được quyền đầu tư vào giáo dục đại học, cụ thể là các đại học tư thục” (tr. 520)

Về quan hệ giữa nhà nước thế tục và tôn giáo qua thực tiễn nhà nước Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám tới nay, tác giả đánh giá cao Sắc lệnh 234/SL ban hành năm 1955 như một sự lựa chọn mô hình quan hệ nhà nước thế tục và tôn giáo ở Việt Nam, chia quá trình này làm 3 giai đoạn: giai đoạn 1 từ 1954-2004 với việc ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo, giai đoạn 2 từ 2005-2016 với việc ban hành Luật tín ngưỡng tôn giáo và giai đoạn 3 nói việc thực thi Luật tín ngưỡng, tôn giáo và những vấn đề đặt ra. Khẳng định các mô hình thế tục hệ tư tưởng (như ở Pháp) hay thể chế thế tục trung tính lạnh lùng đều không thích hợp với Việt Nam (tr. 610), tác giả cho rằng Việt Nam cũng không lựa chọn mô hình nhà nước thế tục có tôn giáo dân sự như ở Mỹ. Cái hợp lý đối với Việt Nam là mô hình nhà nước thế tục đa nguyên hay hài hòa. Đây cũng là mô hình mà Ấn Độ, nhiều quốc gia Đông Nam Á và nhiều nước khác lựa chọn. Việc lựa chọn trên là khả thi và hợp lý hơn cả để một mặt nhà nước đảm bảo mọi người quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng, đồng thời phát huy được các nguồn lực tôn giáo cho sự phát triển xã hội.

Cần phải nói thêm lý do ra đời của cuốn sách. Nhiều năm nghiên cứu về chủ đề nhà nước và tôn giáo, GS. Hưng đã có đủ bộ ba về chủ đề này, Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam (2005), Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền (2014), Nhà nước – Tôn giáo – Luật pháp (2014). Nhưng đó vẫn là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn chính sách của nhà nước Việt Nam từ sau năm 1945 về tôn giáo, những vấn đề quan hệ giữa tôn giáo và chính trị ở Việt Nam. Nếu chỉ dừng lại ở đó, giáo sư đã có thể “rửa tay gác kiếm”. Nhưng cách đây mấy năm có dịp dự các cuộc Hội thảo ở Utah (Hoa Kỳ) về các vấn đề nhà nước thế tục, có dịp tìm hiểu, nghiên cứu những thành công, thất bại của các mô hình thế tục của nhiều nước, nhận thấy cần phải đặt vấn đề này ở Việt Nam trên nền tảng của các lý thuyết khoa học. Và điều đó thôi thúc giáo sư cần có thêm cuốn thứ tư về chủ đề này mà chúng ta đang nói ở đây.

Có thể có một vài nhận xét sau về cuốn sách: Thứ nhất, đó là tính hàn lâm trong việc sử trí các vấn đề học thuật và khối lượng thông tin dồi dào. Người đọc cảm thấy dồi dào bởi khối lượng thông tin, số lượng các tác giả nước ngoài được đề cập trong cuốn sách. Thứ hai, người đọc có thể thấy quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo ở Việt Nam rõ ràng hơn ở cả một vài công trình nghiên cứu khác về chủ đề này tuy dù công trình chỉ dành một chương về Việt Nam. Cái chính là quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo ở Việt Nam không bị khép kín, mà nằm trong khung cảnh chung của khu vực và thế giới. Đặc biệt nghiên cứu này được đặt trên các khung lý thuyết nghiên cứu vấn đề một cách khoa học cũng như trong tương quan với các mô hình nhà nước thế tục trên thế giới. Trên cơ sở đó việc đề xuất mô hình nhà nước nghiêng về thế tục hài hòa, hợp tác của giáo sư là hoàn toàn có cơ sở giải quyết thỏa đáng vấn đề quan hệ nhà nước và tôn giáo ở Việt Nam để, một mặt, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo, mặt khác, quy tụ, khai thác được nguồn lực tôn giáo trong sự phát triển xã hội. Thứ ba, hình thức trình bày trang nhã của cuốn sách, tính lôgich, cách bài trí, cách đặt tiêu đề các chương, tiết gọn nhẹ, như thêm một chất xúc tác khích lệ người đọc. Thứ tư, đây là điểm quan trọng nhất, công trình đưa việc nghiên cứu quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo nói chung, ở Việt Nam nói riêng, lên một tầm vóc mới. Cho tới nay một số các nghiên cứu về quan hệ giữa nhà nước hiện tại và tôn giáo ở Việt Nam dừng lại ở việc trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách của Đảng cộng sản và nhà nước đối với tôn giáo. Về phương diện học thuật đây đó vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi tính khảo tả. Cách nghiên cứu vấn đề đóng khung ở Việt Nam trong sự tách dời với khung cảnh của thế giới. Trái lại, Nhà nước thế tục dựa trên những khung lý thuyết về tính hiện đại/hiện đại hóa, tính thế tục/chủ nghĩa thế tục, tiếp thu những thành tựu của nghiên cứu thế giới về nhà nước thế tục và quan hệ của nó với tôn giáo, đặt việc nghiên cứu quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo ở Việt Nam trên nền tảng bản chất của nhà nước thế tục và quan hệ của nó đối với các tôn giáo, mổ xẻ những vấn đề thực tiễn đời sống tôn giáo trong xã hội hiện đại trên một nền tảng lý thuyết khoa học. Mỗi công trình của GS. Đỗ Quang Hưng bàn một chủ đề riêng, có những sắc thái, thú vị riêng. Theo ý kiến cá nhân, Nhà nước thế tục có lẽ là công trình thú vị nhất của Giáo sư về chủ đề quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo mà tôi được biết. Xin trân trọng giới thiệu công trình Nhà nước thế tục tới đông đảo bạn đọc.